Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 05/06/2008 00:40 (GMT+7)

Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ lệ protein khác nhau trên cơ sở cân đối một số axit amin thiết yếu ở mức cao đến sinh trưởng của lợn lai thương phẩm giai đoạn 18 - 50 kg

Tóm tắt

Thí nghiệm (TN) tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của khẩu phần (KP) ăn giảm tỉ lệ protein thô có bổ sung các axit amin (AA) tổng hợp đến sinh trưởng của lợn. Thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp phân lô so sánh, nhắc lại hai lần với tổng số 66 lợn lai thương phẩm [Lợn đực lai (Pietrain x Landrace) x Cái lai (Landrace x Yorkshire)] và được chia là 3 lô đảm bảo đồng đều về giống, tuổi, khối lượng và tình trạng sức khoẻ. Lợn được nuôi trong hệ thống chuồng hở và theo chế độ ăn tự do.

KP TN được thiết kế đảm bảo 3200 kcal ME/kg thức ăn (TA). Tỷ lệ protein thô được thiết kế giảm qua các mức: 18; 17; 16% tương ứng với các lô 1, 2 và 3. Mức bổ sung bốn AA thiết yếu dạng tinh thể bao gồm: lysine, methionine, threonine và tryptophan dựa trên đề xuất của ARC (1981); Wang, Fuller (1989); Cole (1992); Baker, Chung (1992). Trong 1 kg TA có 11 g lysine, 7,15g threonine, 6,05g methionine + cystine và 2,09 tryptophan.

Kết quả TN cho thấy: KP TN giảm tỉ lệ protein thô có bổ sung 4 AA thiết yếu không ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của lợn (P µ ≥ 0,05). Sự sai khác về KL khi kết thúc TN chỉ từ 0,22 - 2,32% khi cho lợn ăn KP giảm 1 - 2% mức protein thô. Mặc dù tiêu tốn và chi phí TA/ kg tăng KL có chiều hướng tăng lên khi lợn được nuôi bằng KP giảm protein, nhưng năng suất và thành phần hoá học của thịt lợn không có sai khác rõ rệt. Trong chăn nuôi lợn lai thương phẩm giai đoạn sinh trưởng, nên sử dụng AA tổng hợp để giảm tỷ lệ protein của KP góp phần tiết kiệm thức ăn đạm, tăng hiệu quả chăn nuôi.

Từ khóa: Axit amin tinh thể, lợn lai thương phẩm, giảm protein thô.

1. Đặt vấn đề

Hiện nay, xu hướng sử dụng khẩu phần (KP) ăn giảm mức protein tổng số có bổ sung thêm các AA tổng hợp đang được nghiên cứu nhiều trên thế giới. Ưu điểm nổi bật của việc sử dụng KP có mức protein thấp nhưng được bổ sung thêm AA tổng hợp cho lợn là tác động tích cực đến môi trường. Việc đào thải nitơ từ các trang trại chăn nuôi đã và đang là mối đe doạ nghiêm trọng đối với sức khoẻ con người bởi ô nhiễm amoniac, nitrate/ nitrite trong đất và nước. Người chăn nuôi hiện nay ngày càng phải đối mặt với các nguyên tắc bảo vệ môi trường nghiêm ngặt. Việc giảm mức protein trong TA kết hợp với bổ sung thêm các AA tổng hợp đang là cách tốt nhất để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi lợn. Các nghiên cứu mới đây của trường đại học Kentucky đã chứng minh được rằng, việc đào thải nitơ đã giảm từ 15 – 20% khi giảm đi 2% protein tổng số của KP có bổ sung thêm lysine, và lượng nitơ giảm đi 30 – 35% khi giảm 4% protein tổng số có bổ sung thêm các AA. Hàm lượng amoniac và các khí tải từ phân cũng giảm đáng kể khi sử dụng KP có mức protein thấp được bổ sung thêm các AA tổng hợp.

Ở Việt Nam , việc sử dụng các AA tổng hợp như lysine, methonine trong TA cho lợn đã được nghiên cứu từ nhiều năm nay. Những nghiên cứu sử dụng các loại AA khác như threonine và tryptopphan hầu hết mới chỉ tiến hành trên lợn con và chỉ dừng ở mức bổ sung thêm trên nền TA có tỷ lệ protein thô ở mức cao. Các khuyến cáo về mức lysine cho lợn giai đoạn sinh trưởng 18 - 50 kg thường là 10 g/kg TA (ARC, 1981; Komise vyziva hosodarskych zvirat, 1993; NRC, 1998).

Khi giảm tỉ lệ protein của KP, vẫn cần thiết phải đáp ứng nhu cầu các AA, đặc biệt là threonine và tryptophan. Vì thế, việc tiến hành các nghiên cứu sử dụng 4 loại AA tổng hợp là L – lysine, DL-methionine, L-threonine và L-tryptophan tính theo lysine ở mức cao ảnh hưởng như thế nào đến sinh trưởng của lợn, mà lại góp phần tiết kiệm TA đạm và nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn là rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn.

2. Phương pháp

Thí nghiệm (TN) được bố chí theo phương pháp phân lô so sánh, đảm bảo đồng đều về số lượng, giống, tuổi, tính biệt, khối lượng (KL) và điều kiện chăm sóc. Lợn TN là lợn lai thương phẩm giữa các giống lợn ngoại [Lợn đực lai (Pietrain x Landrace) x Cái lai (Landrace x Yorkshire)] với tổng số 66 con, chia đều cho 3 lô, được lặp lại hai lần trong quá trình TN. Tỷ lệ lợn đực cái trong mỗi lần TN là 6/5. Lợn TN được nuôi trong hệ thống chuồng hở, thông thoáng tự nhiên. TA được cung cấp theo chế độ tự do trên máng ăn bán tự động. Nước uống được cung cấp qua các vòi uống tự động.

KP TA TN được xây dựng với mức năng lượng là 3200 kcal ME và cân đối đủ lượng 4 AA thiết yếu là lysine, methionine, threonine và tryptophan ở mức cao, trong đó tỷ lệ các AA đối với lysine áp dụng theo đề xuất của ARC (1981); Wang, Fuller (1989); Cole (1992); Baker, Chung (1992). Cụ thể, trong 1 kg TA có: 11g lysine, 7,15g threonine, 6,05g methionine + cystine và 2,09 tryptophan. Mức protein thô trong KP được thiết kế giảm dần: 18% - 17% - 16% theo thứ tự các lô tương ứng 1, 2 và 3. Để điều chỉnh đủ tỷ lệ lysine cũng như các AA theo thiết kế, chúng tôi sử dụng các AA tổng hợp như L - lysine, DL- methionine, L-threonine và L-tryptophan.

Nguyên liệu TA trước khi đưa vào thí nghiệm được phân tích các thành phần dinh dưỡng cơ bản như protein, AA, chất xơ, lipit và chất khoáng tại phòng Thí nghiệm trung tâm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Công thức TA TN được xây dựng trên phần mềm OPTIMIX.

Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm sinh trưởng tích luỹ, lượng TA tiêu thụ/ ngày, tiêu tốn và chi phí TA/kg tăng KL, kết quả mổ khảo sát năng suất và phân tích thành phần hoá học của thịt khi lợn TN đạt KL xấp xỉ 50kg.

Số liệu được xử lý thống kê trên phần mềm thống kê STATGRAPH version 4.0.

3. Kết quả và thảo luận

3.1 Khả năng sinh trưởng tích luỹ của lợn thí nghiệm

Kết quả theo dõi về sinh trưởng và tích luỹ của TN cho thấy, với KL lúc bắt đầu TN của các lô tương đương nhau (từ 18,09 đến 18,27 kg/con, P a ≥ 0,05), khi kết thúc TN, KL các lô có sự thay đổi. Ở lô 1 18% protein KL khi kết thúc TN đạt cao nhất (50,07 kg/con), tiếp theo là lô 2 (17% protein) và thấp nhất là lô 3 (16% protein) chỉ đạt 48,91 kg/con (Bảng 1).

Tuy nhiên sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê (P a ≥ 0,05). Điều này cho thấy khi giảm tỷ lệ protein trong KP mà vẫn đảm bảo nhu cầu 4 loại AA thiết yếu là lysine, threonine, methionine + cystine và tryptophan thì không ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của lợn.

Về mặt số học, sinh trưởng của lợn có xu hướng giảm khi giảm tỷ lệ protein trong KP, mặc dù đã đáp ứng được nhu cầu của 4 AA thiết yếu, như vậy, việc giảm tỷ lệ protein đã kéo theo sự thiếu hụt của AA khác. Mức giảm càng tăng, sự thiếu hụt càng cao, nên sinh trưởng của lợn giảm nhiều hơn. KL của lợn lúc kết thúc TN giữa lô 1 và 2 cho thấy, nếu chỉ giảm 1% protein của KP, thì sinh trưởng của lợn hầu như không có sự thay đổi (chỉ giảm 0,22%). Từ đó cho thấy, với 4 loại AA tổng hợp là L- tryptophan, L- lysine, DL- methionine, và L threonine chúng ta có thể giảm tỷ lệ protein 1 – 2% mà vẫn đảm bảo sinh trưởng của lợn.

Phương trình tương quan giữa KL lợn khi kết thúc TN và tỷ lệ protein trong TA như sau:

Y = 40,44020 + 0,538636X với hệ số tương quan R = 0,07966 cho thấy tương quan giữa hai đại lượng này thấp, hay nói cách khác, khi giảm tỷ lệ protein của KP mà vẫn giữ một số AA thiết yếu ở mức cao thì không ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của lợn.

3.2 Ảnh hưởng của việc giảm tỉ lệ protein trong KP có cân đối một số AA thiết yếu đến khả năng sử dụng thức ăn của lợn TN

Tiêu tốn thức ăn và protein/ 1kg tăng khối lượng lợn thí nghiệm.
Tiêu tốn thức ăn và protein/ 1kg tăng khối lượng lợn thí nghiệm.
Số liệu theo dõi về tiêu tốn TA và protein/ kg tăng KL lợn TN được trình bày ở Bảng 2.

Tiêu tốn TA/ kg tăng KL của lợn TN tăng lên theo chiều giảm của tỉ lệ protein trong KP (từ 1,783 đến 1,831 đến 1,882 kg TA, tương ứng theo các lô 1 - 2 - 3), với mức tăng từ 2,69 đến 5,57%. Tuy nhiên tiêu tốn protein/ kg tăng KL ngược lại, giảm dần theo chiều giảm của tỷ lệ protein (giảm từ 320,94 đến 311,27 đến 301,12g, tương ứng theo các lô 1 - 2 - 3; với mức giảm từ 3,02 đến 6,18%). Như vậy, việc giảm tỷ lệ protein của KP, có xu hướng làm giảm hiệu suất sử dụng TA của lợn Tn, việc giảm này theo chúng tôi, ngoài do tốc độ sinh trưởng, còn do ảnh hưởng của tỷ lệ tiêu hoá của lợn đối với KP có mức protein thấp hơn. Các tác giả Otto và cs. (2003), H. T Thong và Liebert (2004) cũng cho thấy tỉ lệ tiêu hoá protein tăng lên khi tăng mức protein trong KP. Tuy nhiên, trong TN của chúng tôi do cân đối được 4 AA thiết yếu, mức độ giảm có phần ít hơn.

Chi phí thức ăn/ 1kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm.
Chi phí thức ăn/ 1kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm.
Khi tính toán về hiệu quả kinh tế của KP giảm protein có cân đối một số AA thiết yếu, chúng tôi thấy chi phí TA/kg tăng KL của lợn TN tăng lên theo chiều giảm tỷ lệ protein. Ở KP có 18%protein, chi phí TA/kg tăng KL là 7.786,35 đồng, khi giảm mức protein xuống 17%, chi phí TA tăng lên 8.176,54 đồng (tương đương 4,89%) và tiếp tục tăng lên 8.638,38 đồng khi giảm mức protein xuống16% (tương đương 10,94%) (Bảng 3). Điều này cho thấy, khi giảm 1% protein thô của KP, mặc dù tiết kiệm được 3,02% thức ăn đạm (Bảng 2), nhưng do phải cân đối đủ theo nhu cầu các AA lysine, threonine,methionine và tryptophan bằng các AA tổng hợp, trong khi giá các AA này còn cao nên làm tăng chi phí TA. Một số nghiên cứu trên thế giới cũng chỉ ra những điểm còn bất cập này, tuy nhiên tất cả đềuthừa nhận những chi phí này có thể bù đắp được khi tính đến những lợi ích khác sẽ đem đến bằng việc giảm tỷ lệ protein thô trong TA như vấn đề môi trường, tiết kiệm TA đạm…

3.3 Ảnh hưởng của việc giảm protein có cân đối một số axit amin thiết yếu đến năng suất và thành phần hoá học của thịt lợn

Kết quả mổ khảo sát năng suất thịt lợn.
Kết quả mổ khảo sát năng suất thịt lợn.
Kết quả mổ khảo sát năng suất thịt lợn khi kết thúc TN cho thấy, không có sự khác nhau rõ rệt về một số chỉ tiêu như tỷ lệ móc hàm, tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ thịt nạc giữa các lô có mức proteinkhác nhau khi được cân đối đủ nhu cầu của 4 AA thiết yếu (Bảng 4). Tuy nhiên khi phân tích chi tiết, chúng tôi thấy khi giảm tỷ lệ protein trong KP, tỷ lệ nạc có xu hướng giảm. Một số nghiên cứu kháccũng chỉ ra được rằng tỷ lệ thịt nạc cũng có xu hướng giảm khi sử dụng KP có tỷ lệ protein thấp và được bổ sung thêm AA tổng hợp cho lợn vỗ béo (Van de Ligt và cs., 2002; Thomke và cs., 1995). Điềunày có thể giải thích là do mối quan hệ giữa tỷ lệ protein và mức năng lượng trong KP.

Kết quả phân tích thành phần hoá học của thịt lợn thí nghiệm (tỷ lệ % trong thịt lợn tươi).
Kết quả phân tích thành phần hoá học của thịt lợn thí nghiệm (tỷ lệ % trong thịt lợn tươi).
Kết quả phân tích thành phần hoá học của lợn TN cho thấy, không có sự khác nhau về tỷ lệ protein của thịt lợn khi được nuôi bằng các KP có tỷ lệ protein giảm và cân đối một số AA thiết yếu(Bảng 5). Điều này cho thấy, khi giảm tỷ lệ protein thô của KP mà vẫn giữ nguyên mức AA thiết yếu, không ảnh hưởng đến thành phần hoá học của thịt lợn.

4. Kết luận

Việc giảm tỷ lệ protein trong KP từ 18 xuống 16% mà vẫn giữ nguyên mức lysine, threonine, methionine + cystine và tryptophan theo ARC (1981) thì không ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng của lợn (P a ≥ 0,05). Mặc dù tiêu tốn và chi phí TA cho một kg KL tăng lên khi cho lợn ăn KP giảm protein, nhưng năng suất và thành phần hoá học của thịt lợn không có sự khác biệt. Trong chăn nuôi lợn lai thương phẩm giai đoạn sinh trưởng, nên sử dụng AA tổng hợp để giảm tỷ lệ protein của KP góp phần tiết kiệm TA đạm, nâng cao hiệu quả chăn nuôi.

Tài liệu tham khảo : trang 9 bản thảo.

Nguồn: T/c Chăn nuôi, 4 - 2008, tr 4

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.