Nghề cá Việt Nam, một số vấn đề đặt ra
Tính hai mặt của sự phát triển
Trong lĩnh vực khai thác, số lượng tàu thuyền liên tục tăng, từ gần 43.940 chiếc và sản lượng khai thác 730.420 tấn thuỷ sản năm 1991 lên 90.880 chiếc và sản lượng khai thác 1.809.700 tấn thuỷ sản năm 2005. Con số trên tuy góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế ngành nhưng đồng thời cũng làm suy giảm nguồn lợi thủy sản một cách nhanh chóng, vì 80% số tàu thuyền hoạt động ở 11% diện tích vùng đặc quyền kinh tế là vùng ven bờ, bên cạnh đó những ngư dân nghèo có tham gia đánh bắt lại sử dụng các loại ngư lưới cụ cấm huỷ diệt như lưới cỡ mắt nhỏ, thuốc nổ, xung điện, thuốc độc, lưới rê… không chỉ tận diệt nguồn lợi thủy sản mà còn gây ô nhiễm môi trường. Thêm vào đó, nguồn lợi và đa dạng sinh học biển còn bị ảnh hưởng bởi các hoạt động nuôi trồng thủy sản (NTTS) trên biển và phá rừng ngập mặn để lấy đất NTTS, du lịch, giao thông, công nghiệp. Tại Hội thảo về phát triển bền vững ngành thủy sản tổ chức ngày 11/5/2006, một số nhà nghiên cứu đã nhận định, sự suy giảm đa dạng sinh học biển Việt Nam đã đến mức báo động do cấu trúc hệ sinh thái biển không bền vững. Chính các tai biến tự nhiên, hoạt động của con người, các yếu tố gây ô nhiễm môi trường đã và đang tạo ra những áp lực đáng kể làm suy thoái môi trường biển nước ta. Hậu quả dẫn đến sự suy thoái các hệ sinh thái biển, nguồn lợi sinh vật và đa dạng sinh học. Nhiều câu hỏi đặt ra, cứ theo đà này thì thế hệ con cháu chúng ta sẽ lấy đâu ra cá để ăn?!!!
Việc chuyển dịch đất sản xuất tăng nhanh về diện tích và sản lượng NTTS từ khoảng 750.000 ha và 720.000 tấn năm 2000 lên gần 1 triệu ha/năm và 1,4 triệu tấn năm 2005, trong đó chủ yếu diễn ra ở các vùng ven biển và ĐBSCL với 2 đối tượng chính là tôm sú và cá tra. Bên cạnh mặt tích cực là tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế, việc làm và thu nhập, giảm nghèo… thì phát triển NTTS, đặc biệt là nuôi tôm cũng gây ra những tác động làm ảnh hưởng đến môi trường, kinh tế và xã hội.
Theo Quỹ Quốc tế và Bảo vệ thiên nhiên (WWF), việc phát triển NTTS, nhất là nuôi tôm làm suy giảm đáng kể diện tích rừng ngập mặn, các hệ sinh thái ven biển, làm đất nhiễm mặn khó phục hồi. Tỉnh Cà Mau - địa phương có diện tích và sản lượng tôm nuôi lớn nhất nước, từ vài trăm ha nuôi tôm năm 1983 đến nay đã tăng lên gần 300.000 ha, trong đó có nguồn gốc chủ yếu từ rừng ngập mặn. Lượng nước thải từ các ao nuôi tôm tăng từ gần 100 triệu m 3năm 1997 lên gần 250 triệu m 3năm 2003, khiến các chỉ tiêu quan trọng của chất lượng nước đều không đạt cho NTTS, đe doạ nghề nuôi tôm. Nhìn chung nuôi tôm mang lại thành công trong vài năm đầu nhưng tính bền vững của nghề này đang bị đe doạ, đặc biệt khi người nuôi cố gắng tăng mức độ thâm canh thì khả năng gây ô nhiễm môi trường đất và nước cũng rất lớn. Thời gian gần đây, dịch bệnh dẫn đến thất bại trong nuôi tôm là khá phổ biến. Đại diện WWF đã cảnh báo, Việt Nam tránh không nên đi theo con đường của Thái Lan khi mở rộng nuôi tôm mà thiếu cân nhắc về môi trường dẫn đến sự sụp đổ của ngành sản xuất này và làm mất nguồn sinh kế của hàng trăm ngàn nông dân.
Làm gì để phát triển theo hướng bền vững
Tại Hội thảo bàn về vấn đề này, Thứ trưởng Bộ Thủy sản Nguyễn Việt Thắng đã cho rằng, không phải cứ nuôi trồng hoặc đánh bắt thủy sản với quy mô công nghiệp là không bền vững, chỉ có điều không thực hiện phát triển bền vững với đầy đủ ý nghĩa của nó thì mới dẫn đến sự mất bền vững, bấp bênh và thất bại, trong khi đó công nghiệp hóa và hiện đại hóa nghề cá là xu hướng không thể đảo ngược. Do đó trong quá trình phát triển cần cân nhắc, tính toán kỹ những yếu tố phát triển bền vững. Bên cạnh đó cần tổng kết rút kinh nghiệm từ những mô hình phát triển bền vững của khu vực và trong nước, dựa trên những tiêu chí phát triển của FAO để nhanh chóng nhân rộng ra cả nước trong năm 2007.
Còn một số nhà khoa học khác cũng đề xuất cách tiếp cận hệ thống sinh thái nhân văn xây dựng chỉ thị quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên vùng biển, trong đó coi tài nguyên thiên nhiên đới bờ biển là một hệ thống và các hoạt động của con người là một hệ thống khác cùng nằm trong một hệ thống cấp cao hơn là đới bờ biển và sử dụng mô hình sức ép - phản hồi để đánh giá sự tương tác giữa các hệ thống và trong cùng hệ thống. Để làm được điều đó cần xây dựng bộ chỉ thị chủ yếu phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên vùng biển, dựa vào sự tác động của các hoạt động kinh tế-xã hội chính như NTTS, khai thác hải sản, du lịch, mở rộng và xây dựng cảng biển, vận tải biển, sử dụng hoá chất trong nông nghiệp lên các yếu tố đặc trưng cơ bản của hệ thống tài nguyên thiên nhiên như rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, bãi triều, đáy biển nông ven bờ… Một bộ chỉ thị được xây dựng bằng phương pháp tiếp cận phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững ở vùng bờ và biển sẽ là công cụ hữu hiệu phục vụ quản lý và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên biển.
Từ lâu ngành thủy sản đã áp dụng mô hình đồng quản lý, trong đó có quản lý cộng đồng ở một số nơi như xã Phù Long (Cát Bà-Hải Phòng), Vạn Ninh - Khánh Hoà, Mỹ Xuyên (sóc Trăng)…mang lại hiệu quả trong khôi phục và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, ổn định thu nhập cho ngư dân nghèo. Thiết nghĩ, ngành thủy sản cần đẩy mạnh cách tiếp cận này như đã mang lại kết quả tốt ở Thái Lan và Lào trong việc bảo vệ tốt hơn môi trường, nguồn lợi, kinh tế xã hội, tăng cường phối hợp giữa các bên liên quan vào quản lý và sự tham gia của ngư dân vào quá trình quản lý, giải quyết mâu thuẫn giữa các bên liên quan về sử dụng nguồn lợi, giảm chi phí quản lý…
Thông thường những mô hình đồng quản lý thường gần với các hình thức sản xuất thân thiện với môi trường mang lại hiệu quả kinh tế cao, chi phí thấp, thị trường tiêu thụ ổn định. Thạc sỹ Trần Ngọc Cường, Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng cho rằng nên áp dụng tiếp cận này ở cấp cơ sở do vai trò của cộng đồng - người dân vừa là người trực tiếp sử dụng vừa là người trực tiếp quản lý tài nguyên- ngày càng được để cao trong quản lý tài nguyên. Vì vậy việc giao tài nguyên cho cộng đồng quản lý phải gắn trách nhiệm và nghĩa vụ theo luật định và cộng đồng phải được hưởng lợi đầy đủ từ nguồn tài nguyên này.
TS. Đặng Văn Thi, Viện Nghiên cứu Hải sản đưa ra cách tiếp cận dựa vào hệ sinh thái đánh giá tổng quát thực trạng và nguồn lợi hải sản để làm căn cứ cho việc ra quyết định quản lý nghề cá. Tổng quan này được xây dựng dựa trên các chỉ số phản ánh các khía cạnh riêng của hệ thống như từng đàn cá riêng biệt, phức hệ đa loài, môi trường sống, chức năng hệ sinh thái và nguồn lợi, cùng với thông tin về tổng quan nghề cá cung cấp thông tin về áp lực lên hệ sinh thái và nguồn lợi. Tuy nhiên, để xây dựng tổng quan này cần tăng cường công tác thống kê chuyên ngành thuỷ sản hướng vào việc đánh giá nguồn lợi và nghề cá hàng năm.
Thực tiễn cho thấy việc áp dụng thành công các cách tiếp cận quản lý liên quan đến phát triển bền vững nghề cá đòi hỏi phải phân tích bối cảnh thực tế hết sức linh hoạt và có cách tiếp cận từ cơ sở cùng với sự tham gia của những người được hưởng lợi về tài nguyên thiên nhiên liên quan ngành, đặc biệt là người dân địa phương đối với những vấn đề liên quan đến phát triển bền vững trong quá trình triển khai ở cấp cơ sở.








