Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 18/08/2010 21:47 (GMT+7)

Ngành thép Việt Nam năm 2009

I. Tổng quan về tình hình kinh tế 2008 và các yếu tố ảnh hưởng đến công nghiệp thép Việt Nam năm 2009

Sau nhiều năm kinh tế trong nước phát triển thuận lợi, mức độ tăng trưởng GDP duy trì khá ổn định ở mức cao, trong đó ngành công nghiệp và xây dựng có mức tăng trưởng tốt đã tác động tích cực đến sản xuất và tiêu thụ thép trong nước. Tuy nhiên từ cuối năm 2007 và đặc biệt những tháng đầu năm 2008, tình hình kinh tế trong nước đã xuất hiện những dấu hiệu bất ổn, tỷ lệ lạm phát tăng đột biến, giá cả các mặt hàng trọng yếu, trong đó có mặt hàng thép đã tăng với mức độ chưa từng thấy. Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu đã tác động trực tiếp đến kinh tế Việt Nam . Nguyên nhiên liệu của ngành công nghiệp thép Việt Nam vốn phụ thuộc phần lớn vào nguồn nhập khẩu từ nước ngoài như: năm 2008 phôi thép nhập khẩu chiếm gần 50%, thép phế liệu làm nguyên liệu sản xuất lò điện nhập gần 70%, than cốc nhập 80%... do chịu tác động của khủng hoảng đã tăng giá liên tục từ giữa năm 2007 tới tháng 5/2008, nhưng sau đó do suy thoái kinh tế giá nguyên liệu và sản phẩm thép đã tuột dốc, giảm còn 1/3 so với đầu năm. Nhiều doanh nghiệp bị tồn kho nguyên liệu giá cao với số lượng lớn, buộc phải bán lỗ, hoặc tái xuất với giá hạ để có tiền trả nợ ngân hàng, trả lương công nhân v.v... Thị trường thép trong nước bị đình đốn, sản xuất ngưng trệ, nhiều công ty đã phải dừng sản xuất hoặc sản xuất gián đoạn, vì không tiêu thụ được sản phẩm. Kết thúc năm 2008, nhiều công ty thép bị lỗ, mặc dù 6 tháng đầu năm có lợi nhuận rất cao. Những công ty có tồn kho thép phế liệu, phôi thép giá cao với khối lượng lớn chuyển sang đã làm cho tình trạng lỗ kéo dài cả sang năm 2009. Một số công ty do dự đoán tình hình kinh tế còn khó khăn, nên nhập ít nguyên liệu, chủ yếu mua phôi thép trong nước thì thoát được tình trạng ứ đọng và sang năm 2009 đã bước đầu khôi phục sản xuất. Những chỉ tiêu về sản xuất, tiêu thụ và nhập khẩu các sản phẩm thép năm 2008 đã sụt giảm so với năm 2007.

Dưới đây là số liệu thống kê một số chỉ tiêu kinh tế Việt Nam và của ngành công nghiệp thép trong nước những năm gần đây.

Bảng 1: Các số liệu kinh tế cơ bản

  Các số liệu

2005

2006

2007

2008

6 tháng đầu năm 2009

Tăng trưởng GDP (%)

8,43

8,17

8,48

6,23

3,9

Trong đó:

Tăng trưởng công nghiệp và xây dựng

41,03

41,50

41,61

39,91

3,48

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài FDI (tỷ USD)

5,85

10,02

20,30

64,00

8,9

Tỷ lệ lạm phát (%)

8,40

6,60

12,63

19,89

2,68

  Bảng 2: Số liệu sản xuất thép của Việt Nam những năm gần đây

Đơn vị: Ngàn tấn

TT

Các số liệu

2005

2006

2007

2008

6 tháng đầu năm 2009

1.

Sản xuất phôi thép

1.318

1.869

2.024

2.250

1.138

2.

Sản xuất sản phẩm thép

4.244

4.743

5.598

5.754

2.633

Trong đó:

- Sản phẩm dài:

3.264

3.468

3.955

3.867

1.928

gồm:

- Thép thanh

- Thép cuộn

- Thép hình

2.073

938

253

2289

936

243

2859

960

136

2898

887

82

1.499

399

30

- Thép cuộn cán nguội

80

215

392

432

157

- Ống thép hàn

450

460

528

550

214

- Thép mạ kim loại và phủ màu

450

600

723

904

334

Bảng 3:Nhập khẩu thép sản phẩm và nguyên liệu sản xuất thép vào Việt Nam những năm gần đây

Đơn vị: tấn

TT

Các số liệu

2005

2006

2007

2008

6 tháng đầu năm 2009

A.

Các sản phẩm:

1. Các sản phẩm dẹt

2. Các SP mạ kim loại và phủ màu

3. Thép thanh

4. Thép cuộn

5. Thép hình

6. Dây thép

7. Ống thép hàn

8. Ống thép không hàn

9. Ống khác

10. Thép khác

11. Thép không gỉ

3.461.000

2.488.000

153.478

-

-

98.475

72.907

25.092

67.621

4.504

307.206

131.478

3.911.000

2.658.000

147.414

84.794

150.995

173.370

101.141

43.411

55.150

2.822

337.505

156.452

6.567.171

4.461.242

275.586

81.786

459.263

236.434

124.410

81.304

87.559

5.411

500.184

253.992

6.198.000

4.273.000

214.000

126.000

392.000

213.000

98.000

45.000

35.000

3.000

541.000

214.000

3.002.480

2.110.647

137.051

30.125

198.459

110.239

33.105

15.737

11.154

509

238.202

117.252

B.

Phôi thép

2.157.000

1.824.374

2.187.888

2.276.000

1.074.667

C.

Thép phế liệu

260.874

527.263

1.051.216

1.481.000

958.811

II/ Tình hình thị trường thép Việt Nam 6 tháng đầu năm 2009

Những biện pháp của Chính phủ nhằm hạn chế lạm phát năm 2008 chủ yếu là những chính sách về tiền tệ như điều chỉnh lãi suất ngân hàng, điều chỉnh tỷ giá, kiểm soát chặt chẽ tín dụng cho vay của ngân hàng, cắt giảm các dự án đầu tư chưa có hiệu quả hoặc hạn chế đầu tư công v.v... đã có tác dụng kiềm chế lạm phát nhưng cũng làm cho tiêu thụ thép giảm sút rõ rệt. Tháng 1 và 2 của năm 2009, sản xuất và tiêu thụ thép chỉ còn ở mức bằng 1/4 mức trung bình mọi năm. Trước tình hình suy giảm kinh tế trong nước, Chính phủ đã kịp thời ban hành nhiều biện pháp điều chỉnh như hạ lãi suất cho vay, tiếp tục giải ngân cho các dự án sau khi đã rà soát kỹ lưỡng hiệu quả đầu tư, kiểm soát chặt chẽ tỷ giá giữa VND và USD. Đặc biệt là các gói kích cầu của Chính phủ đã tháo gỡ nhiều khó khăn cho các công trình đầu tư, kích thích đẩy nhanh tốc độ triển khai các dự án của Nhà nước cũng như của mọi thành phần kinh tế.

Chính nhờ những biện pháp điều chỉnh kịp thời đó, nhiều ngành kinh tế, trong đó có ngành thép từ tháng 3/2009 đã dần dần được khôi phục, sản xuất và tiêu thụ thép đã chuyển biến rõ rệt.

Bảng 4:Sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm thép 6 tháng đầu năm 2009

Đơn vị: tấn

Tên sản phẩm

Tháng 1

Tháng 2

Tháng 3

Tháng 4

Tháng 5

Tháng 6

Sản xuất thép cán

231.257

236.877

297.192

333.221

392.238

324.939

Sản xuất cuộn cán nguội

23.382

21.128

27.039

26.526

27.544

31.511

Sản xuất thép ống

18.184

31.411

40.515

40.606

41.649

42.058

Sản xuất tôn mạ

35.718

49.243

67.406

54.144

61.450

66.325

Tiêu thụ thép cán

175.121

257.324

355.909

431.838

354.990

352.850

Tiêu thụ cuộn cán nguội

16.518

20.573

25.466

23.004

24.888

26.862

Tiêu thụ thép ống

17.505

29.893

36.303

37.043

39.992

43.364

Tiêu thụ tôn mạ

23.717

40.615

48.489

50.284

47.235

54.764

Nếu chỉ tính sản lượng thép cán xây dựng, tổng sản lượng 6 tháng đầu năm đạt 1.823.359 tấn, giảm 7,28% so với cùng kỳ năm 2008; Tổng tiêu thụ đạt 1.929.062 tấn, so với cùng kỳ năm trước tăng 4,25%.

Những năm trước đây, tỷ lệ phôi thép nhập khẩu chiếm 60 – 70% nhu cầu phôi của các nhà máy cán, từ năm 2008 do nhiều lò điện xây dựng trong nước đã đi vào sản xuất nên tỷ lệ phôi trong nước đã chiếm trên 50% và sang năm 2009, tỷ lệ này đạt ~ 60% nhờ vậy sẽ bớt sự phụ thuộc vào biến động của phôi thép nhập khẩu.

Theo số liệu hải quan, tổng lượng thép thành phẩm và nguyên liệu thép nhập khẩu vào Việt Nam tính đến 30/6/2009 đạt hơn 5,114 triệu tấn với kim ngạch nhập khẩu đạt trên 2,508 tỷ USD, trong đó:

Sản phẩm

6 tháng

Năm 2009

So với cùng kỳ năm 2008

Cùng kỳ năm 2008

%

Phôi thép

1.074.667

1.697.980

63,29%

Thép tấm lá đen

2.110.647

3.108.254

67,90%

Thép cuộn

198.459

338.769

58,58%

Thép phế

958.811

887.035

108,09%

Số lượng sản phẩm thép xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm 2009:

- Thép xây dựng:                                          51.108 tấn.

- Thép cuộn cán nguội:                                      985 tấn.

- Thép ống:                                                   21.282 tấn.

- Thép mạ kim loại:                                       55.088 tấn.

Nhìn chung, lượng xuất khẩu đạt thấp vì thị trường thế giới và các nước trong khu vực đang trong giai đoạn suy thoái kinh tế, nhu cầu thép giảm thấp, nhiều nước còn tồn kho thép lớn nên hạn chế lượng thép nhập khẩu.

III/ Diễn biến giá thép của thị trường trong nước 6 tháng đầu năm 2009

Chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế, giá nguyên liệu và sản phẩm thép ở thị trường quốc tế đã giảm mạnh trong năm 2008 và những tháng đầu năm 2009.

Giá thép ở thị trường trong nước cũng giảm mạnh và duy trì khá ổn định trong 3 tháng đầu năm 2009:

Cụ thể giá: - Thép cuộn F6 - F8 ở mức: 10~10,3 triệu/tấn

- Thép cây ở mức: 10,3~10,8 triệu/tấn

Từ tháng 4/2009 có những biến động về giá cả nguyên liệu và thuế nhập khẩu.

- Giá phôi thép nhập khẩu tăng 20-30 USD/tấn (ở mức 420- 430 USD/tấn). Tới đầu tháng 7/2009, giá chào phôi thép vào Việt Nam đã lên tới 470 USD/tấn.

- Giá thép phế nhập khẩu tăng 15 - 20 USD/tấn (ở mức 300 USD/tấn). Đầu tháng 7, giá thép phế đã trên mức 300 USD/tấn.

- Từ 1/4/2009, thuế nhập khẩu phôi tăng từ 5% lên 8%. Thuế nhập khẩu thép xây dựng thành phẩm tăng từ 12% lên 15%. Thuế nhập khẩu cán nguội tăng lên 8%, tôn mạ kim loại và phủ màu là 13%.

- Tỷ giá dollar tăng từ 17.000VNĐ/1 USD lên ~ 18.000VNĐ/1 USD. Và hiện tại rất khan hiếm. Từ tháng 7, chỉ thị của Ngân hàng Nhà nước hạn chế cho vay ngoại tệ để nhập nguyên liệu trong đó có sắt thép phế đã gây khó khăn cho các công ty sản xuất phôi.

- Giá xăng dầu Nhà nước đã điều chỉnh tăng nhiều lần và đầu tháng 7/2009 tăng lần thứ 5.

Tiêu thụ thép trong nước đã có chiều hướng phục hồi. Vì vậy, giá thép trong nước cũng tăng theo.

Giá thép xây dựng tại thị trường Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh đầu tháng 7/2009 đã tăng lên.

Đơn vị tính: VNĐ/kg

Loại

Miền Bắc

Miền Nam

GTTN

Liên doanh

VnSteel

Vinakyoei

Thép tròn đốt

11.000

10.714

11.150

11.200

Thép cuộnf6

10.780

10.714

10.670

10.760

(Giá xuất xưởng chưa có VAT, chưa trừ chiết khấu)

Tuy nhiên, việc tăng giá thép cũng sẽ tạo điều kiện để thép Trung Quốc và thép các nước ASEAN có cơ hội nhập vào Việt Nam nhiều hơn.

Số lượng thép cuộn nhập vào Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2009 đã lên tới 200.000 tấn. Đây là mối lo thường trực đối với các công ty sản xuất thép trong nước khi hội nhập kinh tế với các nước trong khu vực và thế giới.

Để vượt qua khó khăn trong giai đoạn kinh tế suy thoái và cạnh tranh khốc liệt hiện nay, các công ty thép Việt Nam đã có nhiều giải pháp như:

- Đẩy mạnh sản xuất phôi thép trong nước để hạ bớt tỷ lệ nhập khẩu phôi thép nước ngoài, tăng tính chủ động, giảm bớt ảnh hưởng do biến động giá phôi thế giới khi khan hiếm hoặc nhu cầu thép tăng.

- Đưa công nghệ và trang thiết bị mới có công suất cao, kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm để tăng khả năng cạnh tranh.

- Tăng cường công tác thông tin dự báo thị trường để ứng phó kịp thời với những biến động về cung cầu thép, về giá nguyên vật liệu thế giới, để tránh tổn thất.

- Kiến nghị kịp thời với các cơ quan, Bộ, ngành liên quan và Chính phủ để có những giải pháp tháo gỡ khó khăn kịp thời cho các doanh nghiệp, bảo vệ sản xuất trong nước tránh những cạnh tranh không bình đẳng của nước ngoài và các hành vi gian lận thương mại, lách luật, trốn thuế,..

IV. Dự báo tình hình công nghiệp thép trong nước 6 tháng cuối năm 2009

Tình hình thế giới hiện tại vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng, công nghiệp thép ở hầu hết các nước vẫn đang trong giai đoạn cắt giảm sản xuất, nhiều nhà máy phải ngừng hoạt động đặc biệt là các nước xuất khẩu thép đang dư thừa thép với số lượng lớn, đang tìm thị trường để xuất khẩu.

Giá nguyên liệu cơ bản của ngành thép như quặng sắt, than luyện cốc đang được các nước sản xuất thép lớn như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc,.. thảo luận với các nước xuất khẩu như Braxin, Úc... với xu hướng hạ giá 30% đến 40%. Gần đây, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan đã chấp thuận giảm 33% giá quặng so với năm 2008. Riêng Trung Quốc nước xuất khẩu và nhập khẩu các nguyên liệu thép lớn nhất thế giới vẫn chưa ký hợp đồng chính thức với các nước xuất khẩu quặng để gây áp lực đòi giảm giá nữa.

Với xu thế chung của công nghiệp thép như vậy, chắc chắn sẽ có ảnh hưởng đến công nghiệp thép của Việt Nam , trước tiên là về giá thép. Có thể có biến động nhưng không thể có tăng đột biến. Hơn nữa, Việt Namgần Trung Quốc và các nước ASEAN có giá thép rẻ hơn Việt Namsẽ gây áp lực cạnh tranh làm cho giá thép trong nước không thể tăng quá mức để thép nước ngoài tràn vào Việt Nam .

Về các gói kích cầu của Nhà nước (tổng 2 đợt 8 tỷ USD) đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước triển khai các dự án, đặc biệt là các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư bất động sản, xây dựng nhà cho đối tượng có thu nhập thấp, nhà ở nông thôn, nhà ở sinh viên,..làm cho nhu cầu thép sẽ tăng và khôi phục dần mức tăng trưởng của ngành thép trong nước.

Hiện nay, nhiều dự án thép liên hợp của nước ngoài đang triển khai ở Hà Tĩnh, Ninh Thuận, Quảng Ngãi và Bà Rịa - Vũng Tàu. Nếu các dự án này được triển khai như tiến độ đã duyệt, sản lượng thép của Việt Nam sẽ có bước nhảy vọt.

Kết luận

Tuy nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn do chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng với những giải pháp kinh tế của Chính phủ đã từng bước tháo gỡ khó khăn và nền kinh tế Việt Nam vẫn là một trong số ít nước có nền kinh tế tăng trưởng dương. Riêng đối với ngành công nghiệp thép, nhờ các gói kích cầu của Nhà nước và đặc biệt là các giải pháp về tài chính, các doanh nghiệp trong Hiệp hội đã có rất nhiều giải pháp để vượt qua thời kỳ khó khăn và đã bước đầu khôi phục nên sản xuất và tiêu thụ thép không suy giảm nhiều so với các năm trước. Trong 6 tháng đầu năm 2009, tiêu thụ thép đã tăng trưởng 4,25% và các dự án đầu tư của các công ty thép trong nước vẫn tiếp tục được triển khai.

Nhiều nhà đầu tư nước ngoài coi Việt Nam là nước có tiềm năng xây dựng và phát triển công nghiệp luyện thép nên mặc dù kinh tế toàn cầu suy thoái nhưng các nhà đầu tư lớn của Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Ấn Độ,.. vẫn tiếp tục triển khai các dự án lớn với mức đầu tư nhiều tỷ USD vào Việt Nam .

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.
GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.