Ngành sữa trước sự thay đổi khí hậu toàn cầu
Trái đất ấm lên sẽ làm giảm lượng cỏ, cây bụi và những loại cây thức ăn gia súc khác ở nhiều vùng và đồng thời cũng ảnh hưởng trực tiếp đến sinh lý của bò sữa. Theo Terry Mader (Đại học Nebraska-Lincoln, nghiên cứu ảnh hưởng tiềm ẩn của thay đổi khí hậu đến vật nuôi và cách giảm tác hại), nhiệt độ tối ưu cho bò sữa là 20 – 22 độ C, cứ mỗi một độ tăng lên trên mức tối ưu này, năng suất sữa giảm 2%.
Theo Terry, nhiệt độ trung bình ở miền Trung - Tây (Mỹ) sẽ tăng 2 - 5 oC trong thế kỷ tới cơ thể của bò sữa vẫn thích ứng được. Qua tiêu hóa và trao đổi chất, bò sữa sinh ra nhiệt. Để thải nhiệt, chúng phải đối mặt với yếu tố môi trường. Chúng đối phó với sự tăng nhiệt này bằng cách ăn ít đi (giảm lượng ăn vào), kết quả là giảm sản phẩm đầu ra (sữa, thịt, lông). Tỷ lệ thụ thai cũng thấp hơn trong những tháng nóng. Đó chỉ là vấn đề sinh lý. Bài báo của Mader và cộng sự (đăng Tạp chí Climatic Change ), đã kết hợp mô hình bò sữa và mô hình khí hậu để dự đoán sản suất sữa của bò ( dọc theo 3 đường cắt bắc - nam ở Trung – Tây) trong điều kiện giả thuyết mức khí thải CO 2tăng gấp đôi và gấp 3 lần. Các nhà nghiên cứu đã kết luận sản lượng sữa vào mùa hè ở Mỹ khi đó sẽ giảm từ 16 - 30%, nhiều gấp 2 lần sự sụt giảm vào mùa hè hiện nay. Giảm lượng sữa cung cấp sẽ dẫn đến tăng giá sữa và ở một số vùng người sản xuất còn phải tăng chi phí do dùng quạt điện để làm mát cho bò.
Các nhà nghiên cứu khác đang hướng vào sự đa dạng di truyền của gia súc ở các nước nhiệt đới để tạo ra những giống bò chịu nhiệt mà cho nhiều sữa. Vấn đề là một bò Hà Lan ở Mỹ sản xuất tới 8000 lít sữa/năm, còn những giống bò ở vùng đồng bằng của Brazil tuy có khả năng kháng ve, chịu nhiệt tốt nhưng chỉ sản xuất được hơn 1000 lít sữa/ năm. Một số nhà nghiên cứu về gen bò ở Beltsville và Illumina cùng nhau để xây dựng những con “chip” di truyền (gene chips), chúng sẽ giúp các nhà nghiên cứu nhanh chóng thu thập phả hệ của bò và phân tích sản lượng sữa trong mối quan hệ với các yếu tố môi trường. Van Tassell và các nhà khoa học Úc nghiên cứu trên 62.343 con bò Hà Lan để nhận dạng các chỉ thị di truyền (genetic markers), các chỉ thị này sẽ cho biết mức độ nhạy cảm của năng suất sữa với nhiệt độ và lượng thức ăn xanh gia súc ăn vào (bài báo đăng trên PloS One). Theo Van, ở Úc, gia súc nhạy cảm với thay đổi khí hậu hơn ở Mỹ (nhất là trường hợp hạn hán xảy ra như năm ngoái.
Theo Van và cộng sự, họ có thể giữ sản lượng sữa gần như không đổi (khoảng 18 kg/ngày) khi nhiệt độ tăng từ 60 lên 90 oF (tức 15.5 lên 32.2 độ C) bằng cách dùng những bò đực giống có gen ít nhạy cảm với nhiệt độ. Nếu dùng đực giống có gen nhạy cảm nhiều với nhiệt độ thì với ngưỡng nhiệt độ như trên, năng suất sữa sẽ giảm 20%. Trong khi Liên đoàn những người nuôi bò sữa quốc gia (NMPF) có thể sẽ hưởng lợi từ toàn bộ nghiên cứu này, họ lại không hài lòng với chính phủ vì chính phủ quy kết ngành sữa là một trong những ngành tạo ra khí thải nhà kính (khi bị xếp vào ngành tạo ra khí thải nhà kính thì hoạt động thương mại của ngành này phải phịu sự chi phối bởi các quy định về bảo vệ môi trường. Ngành nuôi bò sữa đã hứa cắt giảm 25% lượng khí thải carbon vào năm 2020. Theo kết quả khảo sát về hiệu quả kinh tế của ngành sữa trong 60 năm qua, lượng khí thải carbon đã giảm 41%. Theo tài liệu trên Journal of Animal Science (6/2009), người nuôi bò sữa hiện nay chỉ sử dụng 10% đất, 23% thức ăn gia súc và 35% nước so với năm 1944 để sản xuất ra cùng một lượng sữa.
Một câu hỏi lớn đặt ra là ngành sữa sẽ thay đổi thế nào trong thế kỷ tới. Theo Mader, các nhà nghiên cứu ở Brazil đang quá lo đến sự thay đổi khí hậu, họ đề nghị nước này nên chuyển sang sản xuất sữa dê. Ông cho rằng đây là một ý tưởng viển vông. Ngành sữa sẽ thay đổi nhưng chúng ta vẫn hy vọng chọn lọc được nhiều con bò tốt từ tổng đàn bò hiện nay.








