Ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp
Chương trình môi trường của Liên hiệp quốc (UNEP): "Ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp là việc áp dụng một cách liên tục chiến lược ngăn ngừa tổng hợp về mặt môi trường đối với các quá trình sản xuất, các sản phẩm và các dịch vụ nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và giảm thiểu các rủi ro đối với con người và môi trường".
Mục tiêu của quá trình sản xuất:
Bảo tồn vật liệu và năng lượng, loại bỏ các vật liệu thô độc hại và giảm bớt khối lượng cũng như độc tính của tất cả các chất thải và các hơi khí độc hại ngay tại nguồn.
Mục tiêu đối với các sản phẩm:
Giảm bớt các tác động tiêu cực trong suốt toàn bộ vòng đời của một sản phẩm, từ lúc thiết kế cho đến lúc thải bỏ.
Mục tiêu đối với các dịch vụ:
Lồng ghép các khái niệm môi trường vào trong việc thiết kế và cung cấp các dịch vụ.
Cục Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA): "Ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp là việc sử dụng các vật liệu, các quá trình hoặc các thao tác vận hành sao cho giảm bớt hoặc loại trừ khả năng tạo ra các chất ô nhiễm hoặc các chất thải ngay tại nguồn. Nó bao gồm các hành động làm giảm việc sử dụng các vật liệu độc hại, năng lượng, nước, hoặc các tài nguyên thiên nhiên thông qua việc bảo tồn hoặc sử dụng có hiệu quả hơn".
Ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp đòi hỏi phải có sự thay đổi về nhận thức và thái độ của các đối tượng có liên quan, thực hiện việc quản lý môi trường với tinh thần trách nhiệm và định hướng những sự lựa chọn về công nghệ.
Các yếu tố cốt lõi của cách tiếp cận về ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp được tổng hợp lại.
Hiện nay chiến lược ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp đang được Chương trình môi trường của Liên hiệp quốc (UNEP) và các chương trình môi trường của nhiều nước công nghiệp phát triển áp dụng triển khai nhằm bảo vệ các nguồn tài nguyên và môi trường. Ngăn ngừa ô nhiễm nói chung và ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp nói riêng sẽ trở thành yếu tố quyết định trong chiến lược quản lý môi trường thống nhất của cả thế giới.
Nhiều thuật ngữ đã được sử dụng để miêu tả các hoạt động để giới hạn hoặc làm giảm thiểu sự phát triển, sự phát sinh của chất thải nguy hại, giảm tối thiểu chất thải, giảm chất thải, nguồn thải ngăn ngừa ô nhiễm, tái chế và tái sử dụng.
Một số ví dụ về quản lý ngăn ngừa các nguồn chất thải nguy hại
Chất thải nguy hại, đôi khi còn được gọi là các chất thải đặc biệt, là những chất thải cần phải vận chuyển, xử lý, và thải bỏ một cách đặc biệt vì tiềm năng nguy hại hay thể tích lớn của chúng, tốt nhất các chất thải này không thể nhập với các dòng thải sinh hoạt, nhưng hiện tượng này vẫn xảy ra khá thường xuyên, đặc biệt ở các nước đang phát triển như Việt Nam.
Chất thải đặc biệt có thể gây tác động nghiêm trọng tới sức khoẻ và môi trường nếu không được quản lý tốt. Những người làm việc với các chất thải này (như những người lượm rác chẳng hạn) phải đối mặt thường xuyên với những sự rủi ro khá cao. Thành phần độc hại của các chất thải này có thể đi vào môi trường, làm ô nhiễm các nguồn nước. Chất nguy hại cũng có thể làm xuống cấp các trang thiết bị của bãi chôn lấp chất thải. Ngăn ngừa chất thải nguy hại được thảo luận đến ở đây bởi vì chúng có tác động tiêu cực tiềm năng lên hệ thống quản lý chất thải đô thị nói chung, trong đó đặc biệt là các chất thải công nghiệp nguy hại.
Quản lý chất thải rắn nguy hại là một công việc tương đối khó khăn đối với hầu hết các nước đang phát triển, đặc biệt những nơi chưa có hệ thống quản lý chất thải sinh hoạt hoàn chỉnh. Có 3 nguyên do: thứ nhất: quy định đối với quản lý chất thải chưa rõ ràng; thứ hai: các nguồn lực sẵn có để quản lý chất thải còn thiếu vốn; và thứ ba: công nghệ cần thiết để quản lý chất thải nguy hại đặc biệt thường không phổ biến.
Việc quản lý hữu hiệu các chất thải nguy hại đặc biệt cần bắt đầu với việc đánh giá của chất thải lên sức khoẻ và môi trường, lợi ích môi trường của việc quản lý đúng quy cách chất thải nguy hại có thể rất lớn vì trong nhiều trường hợp một lượng nhỏ chất thải có thể gây thiệt hại lớn. Tuy nhiên, mặc dầu chất thải nguy hại có rủi ro, số lượng không phải lúc nào cũng đủ nhiều để được thu gom và thải riêng rẽ.
Ngăn ngừa rủi ro trong quá trình thu gom, vận chuyển chất thải nguy hại.
Cơ sở phát sinh chất thải nguy hại cần phải kê khai số lượng, thành phần chất thải cần thu gom, xử lý.
Hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại chỉ được thực hiện bởi đơn vị được cấp giấy phép.
Khi thu gom, vận chuyển chất thải nguy hại phải đảm bảo an toàn, tránh rò rỉ, đổ vỡ trang thiết bị vận chuyển theo tiêu chuẩn quy định, lộ trình vận chuyển không quá dài, tránh các khu đông dân cư, khu công cộng, đơn vị thu gom phải có nhật ký hành trình, có kế hoạch ứng cứu sự cố khi xảy ra tai nạn khi vận chuyển, thu gom xử lý chất thải nguy hại.
Chất thải nguy hại phải được đóng gói và ghi nhãn theo quy định.
Việc ghi nhãn cảnh báo chất thải nguy hại là rất quan trọng. Giấy nhãn và mực in trên nhãn phải bền trong điều kiện vận chuyển. Trên nhãn phải đảm bảo những thông tin quan trọng nhất như: Tên gọi, xuất xứ, đặc tính lý hoá, tính độc, thành phần cấu tạo, thời hạn bảo quản hạn sử dụng. Có 2 loại nhãn hiệu:
Nhãn báo nguy hiểm dùng cho tất cả các chất nguy hại và chất thải nguy hại. Nhãn có dạng hình vuông nghiêng 45 0, chất nguy hại được biểu diễn bằng hình ảnh và chữ viết nếu có nhãn báo nguy hại phụ phải dán ngay bên cạnh nhãn chính.
Nhãn chỉ dẫn bảo quản, dạng hình chữ nhật ghi một mình hoặc ghi kèm theo nhãn. Nhãn này ghi các chất cần lưu ý như tính dễ vỡ, tính từ, điều kiện bảo quản khi vận chuyển, lưu trữ và hay sử dụng.
Nhãn trên bao bì chứa chất nguy hại và chất thải nguy hại có hình dạng, màu sắc, ký hiệu và chữ viết theo chuẩn quốc tế, hoặc một số chất sẽ theo quy định của quốc gia. Việt Nam cũng đã có Nghị định 68/2005/NĐ-CP về an toàn hoá chất, trong đó cũng có quy định về nhận dạng và khai báo hoá chất nguy hiểm.
Vận chuyển chất thải nguy hại xuyên biên giới phải tuân thủ các quy định của công ước Basel .
Ngăn ngừa rủi ro trong quá trình lưu chứa chất thải nguy hại
Chất nguy hại và chất thải nguy hại chỉ được lưu chứa tạm thời trong những khu vực quy định, theo tiêu chuẩn, có biển báo từ xa. Lưu chứa một lượng lớn chất thải nguy hại cần có địa điểm kho đáp ứng về kết cấu, kiến trúc, phòng chống cháy nổ nhằm đảm bảo an toàn, tránh sự cố rò rỉ, thất thoát ra môi trường xung quanh. Nhà kho đảm bảo một số yêu cầu kỹ thuật như:
Vận liệu xây dựng không dễ bắt lửa, khung nhà được gia cố bằng thép hay bê tông hay nên bọc cách nhiệt khung thép. Bê tông, gạch đặc hay gạch bê tông vừa chống cháy tốt vừa có độ bền và ổn định.
Kết cấu và bố trí đảm bảo các khu vực kín và rộng đều có lối thoát hiểm ít nhất theo hai đường, có chỉ dẫn rõ ràng, cửa thoát hiểm dễ mở. Thiết kế nhà kho thông gió tốt, sàn không bị thấm, không có khe nứt, không có đường cống hở trong kho.
Các thiết bị, phương tiện an toàn, ứng phó sự cố được trang bị đầy đủ, các thiết bị điện phải được nối đất và có bộ ngắt mạch khi rò điện, bảo vệ quá tải.
Ngăn ngừa rủi ro trong quá trình xử lý, tiêu huỷ chất thải nguy hại
Trong quá trình xử lý, tiêu huỷ chất thải nguy hại, người lao động tuyệt đối tuân thủ quy trình kỹ thuật xử lý và an toàn lao động giúp loại trừ chất thải nguy hại vào môi trường. Các thao tác và xử lý chất thải nguy hại được ghi thành hướng dẫn cụ thể bao gồm cả các nguy hại khi xảy ra sự cố, cách thức xử lý trước và sau sự cố, kỹ thuật sơ cứu tương ứng. Ngoài các biện pháp kỹ thuật giảm nhẹ hoặc loại trừ sự cố, việc trang bị phòng hộ cá nhân cũng được bắt buộc và người lao động phải được huấn luyện sử dụng, thao tác với các dụng cụ phòng hộ đạt mức thành thạo.
Bên cạnh việc quản lý về mặt kỹ thuật như trên, quản lý rủi ro nói chung và quản lý rủi ro chất thải nguy hại nói riêng còn được quản lý về mặt quản lý. Đối với các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động sản xuất cũng như dịch vụ đều cần tránh rủi ro cho hoạt động của mình.
Các biện pháp kỹ thuật ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp
Một cách tổng quát có thể chia ra thành 3 nhóm kỹ thuật chính:
Giảm thiểu tại nguồn.
Tái sinh.
Cải tiến sản phẩm.
Mỗi nhóm kỹ thuật trên có thể chia ra thành các tiểu nhóm và trong mỗi tiểu nhóm có thể có nhiều biện pháp kỹ thuật khác nhau.
Giảm thiểu chất thải tại nguồn
Thuật ngữ giảm tối thiểu chất thải tại nguồn áp dụng cho các kỹ thuật quản lý hoặc sự thay đổi quy trình mà cuối cùng là làm giảm khối lượng hoặc độc tính của chất thải đưa đến khâu xử lý hoặc thải bỏ. Thuật ngữ này không bao gồm các hoạt động đơn thuần cố gắng giảm tính nguy hại của chất thải về thể tích đến việc giảm độ nguy hiểm.
Một vài thuật ngữ ngăn ngừa ô nhiễm liên quan đến định nghĩa này bao gồm:
Quản lý hoá chất để làm giảm sự cố
Nhận ra và định lượng tất cả những chất cần thải bỏ.
Giảm tối thiểu chất thải
Giảm thiểu tại nguồn bao gồm:
Cải tiến việc quản lý nội tại và vận hành sản xuất
+ Những cải tiến về điều độ sản xuất
+ Ngăn ngừa việc thất thoát và chảy tràn
+ Tách riêng các dòng chất thải
+ Đào tạo nhân sự
Các chương trình ngăn ngừa ô nhiễm có thể thay đổi từ những chương trình nhận thức về ô nhiễm đơn giảm mà ở đó các nhà quản lý và các công nhân được yêu cầu xác định các cách thức làm giảm sự phát sinh chất thải, cho tới những chương trình phức tạp đòi hỏi phải bố trí các nhân sự riêng biệt và rộng hơn nữa - các hoạt động toàn cầu. Trong những trường hợp đó, các nhân công đóng một vai trò chủ chốt. Một chiến dịch hiệu quả nhằm giảm thiểu lượng chất thải sinh ra đòi hỏi phải được kết hợp với một chương trình huấn luyện nhân viên có hiệu quả, dạy nhân viên làm thế nào để nhận biết sự rò rỉ, tràn và thất thoát tài nguyên vật liệu. Những người vận hành quá trình và các cá nhân bảo trì cần phải được tập huấn bổ sung chuyên sâu về các phương pháp ngăn ngừa ô nhiễm.
Bảo toàn năng lượng: Năng lượng nhiệt có thể được bảo toàn bằng cách quan tâm đến việc ngăn ngừa các chất thoát nhiệt năng trong quá trình vận chuyển từ nguồn cung cấp đến nơi tiêu thụ. Cũng có thể phục hồi và sử dụng nhiệt được sinh ra bởi chính các quy trình sản xuất. Các nhà máy sản xuất tiêu thụ một khối lượng khổng lồ nhiệt năng cho các quá trình sản xuất và cho cả các hoạt động sinh hoạt trong nhà máy.
Thay đổi quá trình: Những thay đổi về quá trình liên quan với việc một sản phẩm được tạo ra như thế nào.
Những thay đổi về nguyên liệu đầu vào:
Thay đổi hẳn nguyên vật liệu có tính độc hại cao bằng những nguyên vật liệu có tính độc hại thấp hơn hoặc không độc hại. Ví dụ có thể sử dụng các tác nhân tẩy rửa có khả năng hòa tan trong nước để thay cho các dung môi độc hại.
Đẩy mạnh giáo dục ý thức bảo vệ môi trường và truyền thông môi trường
Sự nghiệp bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân thì mới có môi trường trong sạch lâu dài. Cần phát động và khuyến khích các phong trào quần chúng tham gia bảo vệ môi trường. Thay đổi nếp sống không phù hợp với bảo vệ môi trường.
Điều quan trọng là làm sao cho mỗi hộ sản xuất, mỗi chủ xe máy, chỉ xí nghiệp, mỗi lãnh đạo chính quyền từ phường đến thành phố đều có được những nhận thức, hiểu biết và có trách nhiệm cao đối với bảo vệ môi trường. Nếu như người ta cứ vứt rác bừa bãi ra đường, đổ rác xuống sông ngòi, xả nước bẩn ra mặt đường thì không thể bảo đảm được phố phường sạch - đẹp - vệ sinh.








