Nên điều chỉnh một số nhận xét trong các giáo trình đại học về lịch sử sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian
Bên cạnh nhiều nhận định xác đáng, trong những cuốn sách vừa nêu, đến thời điểm này, có những nhận xét cần được thảo luận, điều chỉnh. ở bài này, chúng tôi xin nêu ba vấn đề.
1. Vấn đề đánh giá các công trình của các tác giả người Pháp
Trong thời kì giao lưu văn hoá Đông Tây, đúng như PGS. Đỗ Bình Trị đã nhận xét, "dưới thời thống trị của thực dân Pháp, việc nghiên cứu folklore (văn hoá dân gian) về cơ bản được tiến hành trong quỹ đạo của dân tộc học, dân tục học, theo đúng mô hình của khoa học chính quốc. Tuy vậy, hướng tiếp cận ngữ văn lịch sử có tính chất truyền thống đối với "văn chương truyền khẩu" vẫn được duy trì và chưa bao giờ đứt đoạn ở nước ta" [18:72].
Về các công trình của các tác giả người Pháp, PGS. Đỗ Bình Trị nhận định như sau:
"Tất nhiên, so với mấy tập "kí" về đất Giao Chỉ, Giao Châu của bọn thái thú, thứ sử của các triều đại Hán, Đường thì việc tìm hiểu về đất nước và dân tộc "được bảo hộ" của người Pháp có bài bản hơn rất nhiều. Song, bản chất của việc làm và mục đích của nó căn bản chỉ là một. Từ những báo cáo, những tường thuật, những ghi chú mô tả, những tập ghi chép các loại của những giáo sĩ - gián điệp, của những nhà thám hiểm - do thám... cho đến những cuốn hồi kí của các quan binh bình định và các sách sưu tập, khảo cứu dân tục học của một số viên quan cai trị thực dân, của mấy học giả phân biệt chủng tộc và bọn bồi bút bản xứ - tất cả đều phục vụ cho mục đích chính trị thâm độc của thực dân xâm lược. Chắc ít có ai đủ khờ khạo và tự ti để ngây ngất với những lời khen ngợi lèo lá về một vài giá trị xưa cũ nào đó của văn hoá dân gian bản xứ trong các công trình mô tả dân tục của các quan Tây! Mấy đoạn văn hoa mĩ trong đống tài liệu nói trên khác nào những màu sắc sặc sỡ nham hiểm ở cây nấm độc?Việc lọc ra trong đó những tư liệu dùng được, cần được tiến hành trên cơ sở đánh giá toàn diện, sâu sắc từng tài liệu một" [18:73, chỗ in đậm là do NXK nhấn mạnh].
Nhận xét trên được công bố vào năm 1991, khi đất nước đã thống nhất được 16 năm. Nhận xét ấy chưa thật công bằng, bởi vì tác giả mới chỉ nhìn thấy mặt trái, thấy phần phi khoa học của các công trình của các tác giả người Pháp, chưa chỉ ra mặt khả thủ, phần khoa học của các công trình ấy.
Còn đây là nhận xét công bố năm 1983 của PGS. Võ Quang Nhơn:
“Lịch sử là người làm chứng khách quan và trung thực nhất. Sau khi đi suốt theo dòng lịch sử, chúng ta có thể rút ra một kết luận chung là: Sự nghiệp nghiên cứu khoa học của thực dân Pháp ở Đông Dương nói chung - và nghiên cứu văn học dân gian các dân tộc thiểu số nói riêng - là con đẻ và là người hỗ trợ đắc lực cho sự xâm nhập và chiếm đóng của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương [15: 48].
Năm 1997 (lúc này PGS. Võ Quang Nhơn đã qua đời), nhận định này được người biên tập sửa như sau:
“Có thể nói, sự nghiệp nghiên cứu của một số người Pháp ở Đông Dương nói chung - và nghiên cứu văn học dân gian các dân tộc ít người nói riêng - là con đẻ và là người hỗ trợ đắc lực cho sự xâm nhập và chiếm đóng của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương” [9:559].
Nhận xét này cũng có phần phiến diện. Chúng tôi đã có lần đề cập đến khuynh hướng nghiên cứu, sưu tầm của các tác giả người Pháp đối với văn hoá, văn học dân gian [12]. Nay xin được nhắc lại.
Từ các thế kỉ XVII, XVIII, XIX, các cha cố người Pháp như Đơ Rốt, Vasee, Gô bin, những thương nhân người Anh như Tavecnhiê, Barơn đã viết các hồi kí, những bản tường thuật về tình hình chính trị xã hội, về văn hoá, phong tục tập quán nước ta. Sang thế kỉ XX, việc nghiên cứu văn hoá Việt Nam được người Pháp tiến hành nhiều hơn, có tổ chức hơn. Ngày 20 tháng 1 năm 1900, Viện Viễn đông bác cổ (EFEO) được thành lập tại Sài Gòn, sau đó hai năm, trụ sở của cơ quan này được chuyển ra Hà Nội. Phinô, giám đốc đầu tiên của viện này đã lặp lại gần như nguyên xi lời nói của Đume, toàn quyền Đông Dương: “Muốn cai trị tốt các dân tộc thuộc địa thì điều trước tiên là phải hiểu tường tận dân tộc mình cai trị như thế nào” [8:108]. Những người nghiên cứu bao gồm cha cố, giám mục, võ quan, công sứ và các học giả. Các lĩnh vực nghiên cứu gồm có luật tục, sử thi, truyện dân gian, hội lễ, mĩ thuật, văn hoá tộc người và khảo cổ.
Kì thị chủng tộc, coi châu Âu là trung tâm là điều dễ nhận thấy trong các công trình nghiên cứu của người Pháp. Trong khi nghiên cứu trống đồng Đông Sơn, Gianxê đem đối chiếu văn hoá Đông Sơn với văn hoá đồ đồng Trung Quốc thời Tần Hán và chứng minh cả hai nền văn hoá ấy đều có nguồn gốc từ văn hoá đồ đồng Hanxtát ở châu Âu. Về tiếng Việt, Matxpêrô nhận xét: “Tiếng An Nam chưa bao giờ là một ngôn ngữ văn minh cả, văn học, hành chính, luật pháp, tất cả đều viết bằng tiếng Trung Quốc cho mãi đến gần đây” [8:110 - 111]. Khi nghiên cứu phong tục tập quán các dân tộc ở Đắc Lắc, Metơrơ khẳng định: “Người Mơ Nông và người Bi không hề biết hát” [9:559]. Becna cũng có nhận xét tương tự về người Ê Đê: “Vốn dân ca của người Rađê không có gì” [9:559]. Để chỉ các dân tộc ít người, không ít lần họ dùng các từ “mọi rợ”, “dã man”.
Phương hướng nghiên cứu nhằm phục vụ cho mục đích cai trị đã khiến cho sử thi và truyện kể dân gian (vốn là đối tượng của khoa nghiên cứu văn hoá dân gian, một ngành khoa học ra đời ở châu Âu từ nửa sau thế kỉ XIX) không được xem xét với tư cách là đối tượng của một bộ môn nghiên cứu độc lập, mà chỉ được coi như những tài liệu hỗ trợ, phục vụ cho nghiên cứu dân tộc học, xã hội học. Các tác giả muốn thông qua các tác phẩm đó để tìm hiểu phong tục, tập quán, tình hình xã hội. Có lúc có người còn trắng trợn xuyên tạc sự thật vì mục đích chính trị. Đó là trường hợp giám mục Đuôcnơ bịa chuyện Xơrơđen (vị thần thuỷ tổ của người Hrê) gắn bó với người Pháp; trường hợp công sứ Sabachiê bịa đặt thêm một đoạn luật tục (trong luật tục truyền miệng vốn có từ lâu đời của người Ê Đê) nhằm chia rẽ các dân tộc ít người với người Kinh (Việt), khuyên nhủ các dân tộc ít người đừng đấu tranh chống Pháp mà hãy sống hoà thuận với người da trắng [8:112 - 114; 15:55 - 56].
Cái nhìn kì thị chủng tộc, phương hướng nghiên cứu không đúng và những trường hợp bịa đặt, phản khoa học nêu trên là một thực tế.
Ngoài ra, còn có một thực tế nữa dưới đây.
Hai cuộc khai thác thuộc địa trước và sau đại chiến thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918) làm thay đổi cơ cấu xã hội Việt Nam . Một mặt, dân tộc ta chống lại sự đàn áp, bóc lột, chống lại ách đô hộ; mặt khác, người Việt Nam đã tiếp thu những cái hay, cái mới của văn hoá Pháp. Điều này nhiều khi nằm ngoài ý muốn của những kẻ đi xâm lược.
Tiếng Việt đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của tiếng Pháp về mặt cú pháp, để rồi những năm 30, 40 của thế kỉ XX, bên cạnh văn xuôi nghệ thuật, đã xuất hiện văn xuôi chính luận, khoa học viết bằng quốc ngữ. Khi người Việt Nam tiếp xúc với văn học và khoa học của châu Âu (qua tiếng Pháp) nói chung, của nước Pháp nói riêng, các công trình về tu từ học, những bản tuyên ngôn nghệ thuật của chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực... trở nên quen thuộc trong tầng lớp trí thức Tây học thượng lưu và trung lưu người Việt. Có thể nói, với sự tiếp xúc với văn học và khoa học Pháp, văn hoá Việt Nam kết thúc một thời kì dài khép kín ở phương Đông, văn học Việt Nam bắt đầu quá trình hiện đại hoá và dần dần gia nhập vào quỹ đạo văn học thế giới.
Khi nhìn lại ảnh hưởng của tiếng Pháp và văn học Pháp, GS. Đặng Thai Mai đã viết: “Riêng về phần tôi, trong mấy năm học trung học, tôi đã có thể đọc được ít nhiều tác phẩm của các nhà văn tiêu biểu cho văn học Pháp. Tôi mơ màng cảm thấy rằng trong bấy nhiêu áng văn chương dường như bao giờ cũng có một cái gì có thể gọi là tinh thần dân tộc Pháp. Phải chăng đó là cái lối viết sáng sủa, trật tự, phân minh, thỉnh thoảng dí dỏm nhưng cũng không thiếu những nhận xét khá sâu sắc về tâm lí một nhân vật, về nếp sống một tầng lớp xã hội, về sinh hoạt của một thời kì lịch sử, về nét phổ biến của nội dung” [13:75].
Không phải người Pháp nào cũng kì thị văn hoá Việt Nam . Xin nêu một trường hợp. Cađie là công chức ngành thuế, làm phiên dịch ở Sở Tư pháp Đông Dương, dạy tiếng Việt và chữ Hán ở những lớp mở cho công chức người Pháp. Ông ta nghiên cứu văn học dân gian và văn học trung đại Việt Nam . Năm 1942, ông ta viết như sau: “Tôi đã hiểu người An Nam vì tôi đã nghiên cứu điều liên quan đến họ. Tôi đã nghiên cứu tiếng nói của họ, từ khi mới đến nước này, và hiện nay tôi tiếp tục làm việc ấy, tôi đã thấy rằng tiếng An Nam rất tinh tế về phương diện cấu trúc, và sự phong phú của nó về phương diện từ vựng thì không được phép coi thường như ngày nay người ta quá ư quen làm” [Dẫn theo 8: 116].
Thực tế văn hoá Việt Nam, ánh sáng mới của thời đại và lương tri của con người đã làm cho các tác giả phương Tây có những biến đổi lớn trong cách nhìn và trong sự đánh giá văn hoá Việt Nam. Từ công trình về trường ca Hơrê (năm 1948) đến công trình nghiên cứu về các tù trưởng Lửa và Nước ở vùng người Giarai (1977), giám mục Đuốcnơ đã có bước chuyểnquan trọng. ở công trình sau, ông chú trọng nhiều đến cơ sở lịch sử của thần thoại và đã tôn trọng sự thật khách quan [Dẫn theo 9: 561 - 562].
Viện Viễn đông bác cổ được thành lập nhằm phục vụ cho sự cai trị của chính phủ Pháp. Sự thực thì ý đồ này đã được các học giả thực hiện đến đâu? Cuối năm 2000, một học giả Pháp đã viết như sau: “Viện Viễn đông bác cổ được hình thành với ý tưởng là cơ quan phụ trợ cho hệ thống thuộc địa, hệ thống đã sinh ra Viện, nên ngay từ khi thành lập, EFEO đã vấp phải những mâu thuẫn về thể chế cũng như thiên hướng của mình. Liệu nhà nghiên cứu của Viện có cần phải là một nhà “bác học thực dân”, phục vụ cho một tham vọng cai trị và người này sẽ phải cung cấp những bí mật của một số dân tộc nào đó cho tham vọng này không? Liệu nhà nghiên cứu này có cần phải hiện diện như một kĩ thuật viên say mê lặp lại những phương pháp điều tra và phân tích có từ châu Âu cho một đối tượng nghiên cứu ngoại lai và xa lạ? Cuối cùng, bằng một công việc nhẫn nại buộc ông ta phải có sự khiêm tốn cần thiết, liệu ông ta có thể trở thành những con người như vậy, những con người đi theo hai nền văn minh, có khả năng hiểu thấu những quan điểm đồng nhất đối với lợi ích được chia sẻ cho nền văn minh này cũng như nền văn minh kia. Tình trạng tiến thoái lưỡng nan chưa bao giờ được giải quyết, tuy nó lại có khả năng được phát triển rộng. Thái độ do dự này, giữa một bên là những mối quan hệ gắn cội nguồn với Pháp và nền văn minh cần nghiên cứu, đã biến các nhà nghiên cứu người Âu của Viện thành những con người phức tạp, đôi khi bị nghi là thông đồng với người bản xứ, thường được thừa nhận là những nhà bác học lỗi lạc” [14:7].
Năm 1908, khi Viện Viễn đông bác cổ tuyên truyền cho sự kiện Phan Châu Trinh liền bị toàn quyền Đông Dương nhắc nhở. Viện “đã phải giới hạn những cuộc điều tra của mình trong phạm vi các lĩnh vực không có khả năng làm tổn thương hay gây thiệt hại cho lợi ích của chính quyền Pháp. Chủ trương đưa ra là: tất cả những gì liên quan đến khoa học xã hội đều bị cấm. Còn lại là khảo cổ học, ngôn ngữ, nghiên cứu văn bản cổ, sử học, bảo tàng học và dân tộc học nhưng chỉ được tiến hành một cách dè dặt” [14:8].
So với các nhà nho Việt Nam, các tác giả người Pháp đã viết nhiều hơn, có tổ chức và rất bài bản về văn hoá vật chất và tinh thần Việt Nam, trong đó số công trình viết về văn học dân gian, văn hoá dân gian chiếm một tỉ lệ lớn. Có những lĩnh vực nhà nho không quan tâm sưu tầm, nghiên cứu như sử thi, luật tục thì người Pháp đã chú ý. Có những khía cạnh nhà nho chưa đi sâu thì người Pháp nghiên cứu kĩ hơn. Qua các công trình của họ, người Việt tiếp thu được tư tưởng và phương pháp làm việc khoa học. Năm 1948, trong Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam,đồng chí Trường Chinh nhận xét, trong lĩnh vực sưu tầm, nghiên cứu văn hoá, văn học dân gian “ta đã tập được phần nào tư tưởng và phương pháp làm việc khoa học” [Dẫn theo 18:76]. Căn cứ vào vị thế lãnh đạo của tác giả và thời điểm phát biểu (lúc cuộc kháng chiến chống Pháp đang gay go, quyết liệt), hiện nay (năm 2006), chúng ta có thể hiểu ảnh hưởng của phương pháp làm việc khoa học đó là đáng kể,ở trên mức phần nào.
Trong tập sách Viện Viễn đông bác cổ Pháp tại Việt Nam .Nhìn lại một thế kỉ nghiên cứu khoa học,có những đánh giá rất cao của GS. Nguyễn Duy Quý, GS.Trần Quốc Vượng, GS. Hà Văn Tấn, GS. Lại Văn Toàn,... về công trình của các nhà khoa học châu Âu, trong đó có những công trình viết về văn hoá dân gian Việt Nam . Thí dụ, GS. Trần Quốc Vượng viết: “Tôi đã gặm mòn các tập BEFEO và được làm quen với các học giả P. Peliốt, G. Xơđét, V.Gôlubép, L.Ôrutxô, H.Matxpêrô, J.Zilutxki v.v., qua các công trình nghiên cứu Đông phương học, Việt Nam học của họ. Sau này có sinh viên, nghiên cứu sinh cho rằng thế hệ chúng tôi được trưởng thành và trở thành học giả hàng đầu của thế hệ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà không chỉ vì được học chủ nghĩa Mác - Lênin và đọc các công trình của các học giả xô viết và Trung Hoa mới mà chủ yếu là được Pháp đào tạo” [14:14].
GS. Hà Văn Tấn viết: “Các nhà khảo cổ học chúng tôi không những biết ơn các nhà học giả Pháp trong việc nghiên cứu các nền văn hoá cổ trên đất nước Việt Nam , mà còn biết ơn họ trong việc bảo tồn và lưu giữ nhiều di tích của các nền văn hoá đó. Bảo tàng Lịch sử Việt Nam hiện nay đã được tiếp quản gần như toàn bộ các sưu tập của Bảo tàng L.Phinô” [14:20].
Tất cả những ghi chép, sưu tầm, nghiên cứu của họ về văn hoá, văn nghệ dân gian là những tư liệu cần thiết, quý hiếm đối với việc tìm hiểu lịch sử văn học dân gian, văn hoá dân gian. Thực tế văn hoá Việt Nam và lương tri của người cầm bút đã giúp cho không ít trường hợp họ đánh giá đúng văn hoá dân gian nước ta. Tuy nhiên, do cách tiếp cận văn học dân gian như những tài liệu phụ trợ cho dân tộc học nên chưa thể hình thành khoa nghiên cứu văn học dân gianvới ý nghĩa đầy đủ và chính xác của thuật ngữ này. Cũng có một số trường hợp mà ở đó tác giả này hoặc tác giả khác thể hiện cái nhìn kì thị, coi châu Âu là trung tâm, thậm chí xuyên tạc, bịa đặt folklore nhằm phục vụ cho ý đồ chính trị của bọn thực dân. Đã có một thời, những trang viết như thế không phải là không gây tác hại. Ngày nay, đối với những trang viết ấy, chúng ta không khó khăn trong việc nhận chân giá trị.
2. Vấn đề đánh giá tác giả Phạm Quỳnh (1892 - 1945) và tạp chí Nam phong
Các tài liệu viết về tiểu sử Phạm Quỳnh có hai điểm không thống nhất. Đó là trình độ học vấn và nguyên nhân dẫn đến cái chết của ông [xem các tài liệu 2, 3, 7, 10, 16].
Những điều được ghi thống nhất là: Phạm Quỳnh làm việc ở Viện Viễn đông bác cổ từ năm 1908; năm 1917 làm chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp chí Nam phong với sự trợ cấp tài chính của người Pháp; cuối năm 1932, vào Huế phụ trách Văn phòng của Bảo Đại, rồi lần lượt làm Thượng thư Bộ Học, Thượng thư Bộ Lại. Phạm Quỳnh để lại một khối lượng công trình biên khảo, dịch thuật, bút ký, phê bình văn học khá đồ sộ.
GS. Đinh Gia Khánh nhận định: Phạm Quỳnh là "sản phẩm của chính sách văn hoá của thực dân Pháp", việc làm của tác giả này có ý nghĩa tiêu cực nhiều hơn là tích cực: giới thiệu hoặc dịch sang tiếng Pháp những tác phẩm văn học dân gian trong mục đích xây dựng văn hoá thuộc địa của thực dân Pháp, nhấn mạnh về sự giống nhau giữa người "nông dân An nam" với "người anh em của mình" là "người nông dân Pháp" "để ca tụng sự hoà hợp giữa hai nước Pháp - Nam, thực chất là ca tụng sự cai trị của thực dân Pháp trên đất nước ta" [8: 117 - 118].
PGS. Đỗ Bình Trị viết rằng, tờ Nam phong tạp chído Phạm Quỳnh làm chủ bút là tờ báo lĩnh tiền trợ cấp của Phủ Toàn quyền Đông Dương và đã dẫn lời Phạm Quỳnh như sau: "Bọn ta sinh ra trong buổi giao thời, phải bảo tồn lấy nền văn hoá cũ trong nước mà thâu nhặt lấy vẻ văn minh thời này. Muốn bảo tồn nền văn hoá cũ, nên duy trì lấy đạo luân thường trong quốc dân: đầu luân thường là tôn quân (...) Muốn thâu nhặt vẻ văn minh mới, nên theo dõi nền học thuật của thế giới: biển học thuật ấy là Đại Pháp ân quốc ta vậy" [18: 74].
Nhà giáo Đỗ Bình Trị nhắc đến chủ nghĩa lãng mạn, một khuynh hướng nghiên cứu folklore ở nhiều nước châu Âu đầu thế kỉ XIX. “Đặc điểm chủ yếu của nó là sự sùng bái thời Trung cổ, sự lí tưởng hoá toàn bộ nội dung văn học dân gian thời cổ” [18: 74, chỗ in nghiêng là do Đ.B.T nhấn mạnh]. Nhìn chung, đây là khuynh hướng nghiên cứu “có nhiều tiêu cực, có hại”. Và PGS. Đỗ Bình Trị đặt câu hỏi: ở những người như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh “có chút mùi vị nào của chủ nghĩa lãng mạn không” [18: 74]?
Nhìn chung, các giáo trình đại học về văn học dân gian chưa chỉ ra mặt tích cực, điểm khả thủ của Phạm Quỳnh.
Từ năm 1971, trong hồi kí Đời viết văn của tôi, nhà văn Nguyễn Công Hoan đã đánh giá Phạm Quỳnh rất khác với cách đánh giá của số đông người cầm bút lúc đó. ý kiến của Nguyễn Công Hoan tuy được công bố rộng rãi nhưng ít được chú ý.
Nhà văn Nguyễn Công Hoan cho biết, Phạm Quỳnh là "người có chính kiến"; là người chủ trương thuyết lập hiến, rằng "người Pháp nên thi hành đúng Hiệp ước 1884 nghĩa là chỉ đóng vai trò bảo hộ, còn công việc trong nước thì để vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy. Bấy giờ, Phạm Quỳnh vào Huế làm quan không phải vì danh. Quốc dân biết tên Phạm Quỳnh hơn nhiều Thượng thư Nam triều. Mà cũng chẳng phải vì lợi. Đơn cử làm chủ bút Namphong, Phạm Quỳnh được cấp 600 đồng một tháng. Món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ để lấy danh nghĩa Chính phủ Nam triều đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884. Vậy là một người yêu nướcnhư Phạm Quỳnh sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua là một việc miễn cưỡng trái với ý mình để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn chứ thực lòng một người dân mất nước ai không đau đớn, ai không khóc thầm" [5: 161, chỗ in đậm là do NXK nhấn mạnh].
Năm 2004, PGS. TS. Nguyễn Thị Thanh Xuân nhận xét: "Phạm Quỳnh là người sớm có ý thức vận dụng những phương pháp phân tích văn học của phương Tây vào văn học Việt Nam " [20:216]. Về tạp chí Nam phong, tác giả viết:
" Nam phonglà công cụ văn hoá của thực dân Pháp, do Pháp sáng lập, nhưng trong 17 năm hoạt động (1917 - 1934), nó đã là một sự kiện gắn liền với đời sống văn hoá Việt Nam. Theo những tài liệu Pháp để lại và Nguyễn Văn Trung giới thiệu, chủ đích Nam phonglà: chống ảnh hưởng của Đức vào Việt Nam qua sách báo Trung Hoa; chinh phục tinh thần sĩ phu Việt Nam; cắt đứt với văn hoá Trung Hoa, điểm tựa tinh thần của trí thức Việt Nam.
Namphongrõ ràng là một lối thoát về tinh thần cho tầng lớp trí thức. Tác hại lớn nhất của tờ báo này là đã đánh lạc hướng quần chúng, tạo cho họ một ảo tưởng về chính sách "Pháp Việt đề huề" hay một "chủ thuyết quốc gia về văn hoá".
(...) dù muốn dù không, Pháp và Phạm Quỳnh cũng phải tuân theo những yêu cầu của hoàn cảnh và thời đại. Những hệ quả khách quan ra đời từ đó, có ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển của văn hoá dân tộc" [20: 219-220].
Trong bài Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam phongtrên tờ Tiền phong chủ nhật, tháng 11 năm 2005, tác giả Xuân Ba đã trích dẫn chi tiết ý kiến của nhà văn Nguyễn Công Hoan.
Ngoài ra, nhà báo Xuân Ba còn cho biết, "trong báo cáo ngày mồng 8 tháng Giêng năm 1945 gửi cho đô đốc Đơcu và cho Tổng đại diện Moocđăng, ông Thống sứ Trung Kì Helơuyn đã phàn nàn về Phạm Quỳnh như thế này... Vị thượng thư này vốn đã chiến đấu suốt cuộc đời mình bằng ngòi bút và bằng lời nói không bao giờ bằng vũ khí cho sự bảo trợ của Pháp cho việc khôi phục quyền hành của triều đình Huế trên cả ba kì (Bắc, Trung, Nam) và cho việc người Việt Nam nắm trong tay vận mệnh của chính mình. Một lần nữa vị Thượng thư Bộ Lại đã kịch liệt chỉ trích việc trưng thu gạo cho những người Nhật. Ông ta đã nhắc lại lời đề nghị của mình về xứ Bắc Kì và sự giải phóng mà người Pháp đã hứa. Tôi đã nhận xét với Hoàng đế Bảo Đại là vị Thượng thư Bộ Lại của ông ta đã vượt quá chức trách của mình khi vẫn khăng khăng đòi mở rộng quyền hạn của Viện Cơ mật. Ông ta đòi chúng ta phải triển khai trong thời gian ngắn những lời hứa về sự giải phóng tiến bộ theo một kì hạn chính xác và đòi chúng ta khôi phục cho nhà vua những biểu hiện của một chủ quyền quốc gia trải rộng ở Bắc Kì và Nam Kì. Phạm Quỳnh còn doạ sẽ khuyến khích phong trào chống đối nếu như trong những tháng tới chúng ta không thương lượng với vua Bảo Đại về một thể chế chính trị cho phép chuyển chế độ bảo hộ thành một kiểu Commonwealth (Khối thịnh vượng chung) trong đó những chức vị chính sẽ được giao cho người bản địa. Những yêu sách của Phạm Quỳnh đòi trở lại việc chấp nhận một chế độ tự trị hoàn toàn cho hai xứ bảo hộ (Trung Kì và Bắc Kì) khước từ chế độ thuộc địa ở Nam Kì và thành lập một quốc gia Việt Nam. Tôi xin lưu ý ngài một điều là, dưới vẻ bề ngoài nhã nhặn và thận trọng, con người đó là một chiến sĩ không lay chuyển nổi vì nền độc lập của Việt Nam và đừng hòng có thể làm dịu những tình cảm yêu nước chân thành và kiên định của ông ta bằng cách bổ nhiệm ông ta vào một cương vị danh dự hoặc trả lương một cách hậu hĩ. Cho tới nay đó là một địch thủ thận trọng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và ông ta có thể sớm trở thành một kẻ thù không khoan nhượng nếu ông ta để cho mình bị cám dỗ bởi những lời hứa hẹn về Thuyết Đại Đông ácủa người Nhật Bản" [2: 10].
Xuân Ba phân tích rằng, "Phạm Quỳnh đã ra làm chủ bút báo Namphongdo trùm mật thám Đông Dương Lui Macti chủ trì. Với chức danh đó, ông có thể có vài sai lầm làm hại đến quyền lợi dân tộc. Nhưng mặt khác ông lại có công chuyển tải văn hoá Đông - Tây trên văn đàn báo giới Việt Namgóp phần làm phong phú thêm cho ngôn ngữ văn hoá dân tộc Việt Nam thời đầu thế kỉ XX, công lao lớn đó đáng được ghi nhận. Về đóng góp của Phạm Quỳnh thì đến nay không ít nhà nghiên cứu văn hoá Việt Nam đã ghi lại lời Phạm Quỳnh nhân kỉ niệm Nguyễn Du ( Nam phongnăm 1919): Truyện Kiều còn! Tiếng ta còn! Tiếng ta còn, nước Nam còn!Coi đó là lời nói có ý nghĩa tích cực đáng ghi nhận" [2: 11].
Mới đây, nhân dịp ngày Nhà báo Việt Nam, 21 tháng 6, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật (cơ quan ngôn luận của Bộ Văn hoá - Thông tin) đánh giá: " Nam phonglà một trong những tạp chí có công rất lớn trong việc cổ động cho văn học quốc ngữ, cho nền quốc học Việt Nam. Đặc biệt cho việc xây dựng một nền văn hoá Việt Nam trên cơ sở kết hợp, dung hoà hai nền văn chương, học thuật, tư tưởng Đông - Tây. Các biên tập viên giữ các chuyên mục của tạp chí đều là những cây bút vững vàng, sắc sảo, nhạy bén với những vấn đề văn hoá, trong đó phải kể đến ông chủ bút là Phạm Quỳnh" [17: 95].
Ở đây chúng tôi nêu thêm một số căn cứ để thấy đóng góp của Phạm Quỳnh trên phương diện học thuật.
Trước Cách mạng tháng Tám, trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan khẳng định Phạm Quỳnh là một nhà phê bình văn học quan trọng. Trong Việt Nam văn học sử yếu(1941), Dương Quảng Hàm đánh giá rất cao công lao của Phạm Quỳnh đối với quốc văn.
Theo nhà sử học Đào Duy Anh (một người thời trẻ chỉ học chữ Pháp), sở dĩ ông Đào có hứng thú đối với quốc văn (văn học tiếng Việt) là nhờ được thầy dạy quốc văn Võ Liêm Sơn thỉnh thoảng chọn đọc cho nghe mà thưởng thức những truyện ngắn của Nguyễn Bá Học và Phạm Duy Tốn đăng ở Tạp chí Nam phong. Đào Duy Anh "tự học văn học Việt Namvà biết viết quốc văn phải nói thực một phần không ít là nhờ chuyên đọc Tạp chí Nam phong". "Trong khi dạy học ở Đồng Hới, đồng thời học thêm chữ Pháp theo một chương trình nhất định", ông "không bỏ việc nghiên cứu quốc văn và Hán văn, vẫn lấy Tạp chí Nam phong làm công cụ chính [1:18 - 19].
Theo GS. Nguyễn Huệ Chi, khi diễn thuyết trước Viện Hàn lâm Pháp, Phạm Quỳnh nói rằng, dân tộc Việt Nam không phải là một tờ giấy trắng mà là một tờ giấy đã có chữ, không thể muốn viết lên đó bất cứ điều gì theo ý ai cũng được. Vì thế ông chủ trương điều hoà bảo thủ với tiến hoá, bởi tiến hoá "là cái thế hiển nhiên" "cả cõi á Châu như bị lôi cuốn vào trong làn sóng đó, muốn đi trái ngược lại thì thật là vô ý thức", nhưng lại phải điều phối sao cho "giữ được tuần tự êm đềm, không đến nỗi nhất đán thay đổi cả những phong tục tập quán, tư tưởng chế độ khiến cho cuộc sinh hoạt ở trong dân trong nước bị đảo điên nhũng loạn cả". "Phạm Quỳnh là người làm việc không cẩu thả, dù dịch thuật hay trước tác, ông đều tra cứu cẩn thận, đắn đo câu chữ rất nhiều. (...) Là người biên khảo, lần đầu tiên Phạm Quỳnh cấp cho người đọc những khái niệm bước đầu về mĩ học nói chung cũng như về thơ, về tiểu thuyết... nói riêng. Những kiến giải của ông so với ngày nay phần nào đã tỏ ra đơn giản, ít còn ai chú ý, nhưng đương thời là những ý kiến mới mẻ"[3:1365 - 1366].
Tác giả Trần Văn Chánh nhận xét: " Bỏ qua tất cả mọi vấn đề thuộc về quan điểm lập trường cùng thái độ, phương cách dấn thân, ai cũng thấy về phương diện cá nhân, Phạm Quỳnh là một người suốt đời làm việc siêng năng, tận tụy, không ăn chơi trác táng, thậm chí còn sống khắc khổ nữa là khác" [16: 15; đoạn trích in nghiêng là do tác giả T.V.C nhấn mạnh].
Tóm lại, bên cạnh việc chỉ ra mặt hạn chế, điều sai lầm của Phạm Quỳnh, chúng ta nên công nhận phần khả thủ, phần đóng góp của tác giả này.
3. Vấn đề đánh giá cuốn sách Kinh thi Việt Nam và tác giả Trương Tửu (1913 - 1999)
Năm 1940, cuốn sách Kinh thi Việt Nam của Trương Tửu được Nhà xuất bản Hàn Thuyên công bố. Sách này gồm các phần:
Phần thứ nhất: Kinh thi Trung Hoa
Chương I: Vì lẽ gì Khổng Tử san Kinh thi
Chương II: Kinh thi một tài liệu xã hội học
Chương III: Kinh thi một tài liệu xã hội học (tiếp theo)
Phần thứ hai: Kinh thi Việt Nam
Chương I: Dân chúng Việt Nam và Nho giáo
Chương II: Xã hội Việt Nam xây trên kinh tế nông nghiệp
Chương III: Gia tộc phụ hệ
Chương IV: Chống nam quyền
Chương V: Đời sống tình cảm
Chương VI: Đời sống bản năng
Chương VII: Thực trạng xã hội quyết định ý thức con người
Phần thứ ba: Lai lịch các phong dao
Chương I: Một giả thuyết về lai lịch các phong dao
Chương II: Một giả thuyết về lai lịch các phong dao (tiếp theo)
Chương III: Những thể cách phô diễn của người Việt Nam
Trong phần kết luận, tác giả viết:
"Theo ý tôi, bây giờ nếu ta phải san quyển Kinh thi Việt Nam , ta nên lấy cái xu hướng chống nho giáo của nó làm trung tâm điểm cho sự chú thích và lựa chọn. Rồi ta sẽ lấy những chi tiết của sự chống đối ấy (chống nam quyền, chống triết học duy lý, chống phụ quyền) làm phân loại cốt yếu. Sau nữa ta sẽ tìm những bài có tính cách tài liệu về đời sống kinh tế, gia đình xã hội của ta hồi xưa, làm phân loại phụ. Sau rốt, lúc chú thích mỗi bài ta nên căn cứ vào bốn thể cách phô diễn riêng của người Việt Nam (tương phản, trào phúng, trữ tình, gián tiếp) mà giảng về phần nghệ thuật. Sau tất cả những công việc ấy, mới đến công việc tìm nghĩa chữ. Công việc này, nếu làm được chu đáo, sẽ là một công việc lớn lao, giúp ích rất nhiều cho sự soạn cuốn tự điển Việt Nam sau này.
Tôi tưởng nếu ta san được quyển Kinh thi Việt Nam theo phương pháp đó thì sự lợi ích của nó không phải nhỏ. Đọc Kinh thi Việt Nambây giờ sẽ là tìm trong quá khứ của dân chúng Việt Namcái sức mạnh đủ bảo đảm cho lòng tin của chúng ta ở tương lai của dân chúng Việt Nam . Đọc nó, còn sẽ tìm đến cái hay, cái đẹp, cái khéo của âm điệu và tiếng nói Việt Nam là tìm đến cái hương hoả văn chương của ông cha để lại, do đó mà kiến thiết nền thi ca Việt Nam hiện đại. Đọc nó, còn là tìm cho mình một gốc rễ tinh thần, một lạc thú tinh thần hiếm có.
Tôi thắp hương cầu nguyện cho chóng ra đời quyển Kinh thi Việt Namấy - Kinh thi của chúng ta, của tất cả những người Việt Nam trong dĩ vãng trong hiện tại trong mai hậu" [19: 242 - 243].
Trong sách Văn học dân gian,tập I, GS. Đinh Gia Khánh cho rằng:
"Trong thời Pháp thuộc, cũng có những người tự xưng là khoa học, là mácxít trong việc nghiên cứu văn hoá. Nhóm Hàn Thuyên tập hợp những người mácxít giả mạo ấy, và trong việc nghiên cứu văn học dân gian nhóm ấy đã đưa ra nhiều luận điểm sai lầm. Tiêu biểu nhất là tập Kinh thi Việt Nam với quan điểm duy vật lịch sử đã bị bóp méo. Trương Tửu đã trình bày trong sách ấy vấn đề giai cấp đấu tranh qua ca dao một cách máy móc, và tự đắc rằng đã khám phá được một đặc tính dân tộc của người Việt Nam là tinh thần chống đối. Trong thực tế, cái thứ chủ nghĩa Mác giả mạo ấy không đem lại bước tiến nào cho việc nghiên cứu văn học dân gian trong thời Pháp thuộc. Và những nhà trí thức có lòng yêu nước chân thành, không cần đến thứ chủ nghĩa Mác ấy" [8:122 - 123].
Năm 1991, PGS. Đỗ Bình Trị nhận định rằng: "Trương Tửu là người đại diện cho xu hướng nghiên cứu đội lốt chủ nghĩa Mác". Ông viết: “ Kinh thi Việt Namcủa Trương Tửu tuyệt nhiên không thể coi là sự vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử vào việc nghiên cứu ca dao Việt Nam mà thực chất chỉ là một sự xuyên tạc thô bạo chủ nghĩa duy vật" [18: 75].
Trái ngược với khuynh hướng hạ thấp, thậm chí có phần nghiệt ngã khi đánh giá học giả họ Trương, lại có khuynh hướng đề cao thiếu cơ sở khoa học. Thí dụ, năm 2000, Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin tái bản cuốn Kinh thi Việt Nam của Nguyễn Bách Khoa. Trong Lời nhà xuất bảncó đoạn như sau: "ở Việt Nam , sưu tập lại hoặc luận bàn về ca dao, tục ngữ... cho tới nay có tới cả trăm cuốn sách. Đặc biệt năm 1995, Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin xuất bản bộ: kho tàng ca dao người Việt, coi như gom góp đủ đầy toàn bộ ca dao Việt Nam từ cổ tới kim. Vậy mà tới nay vẫn chưa có được bộ Kinh thi Việt Nam , nghĩa là được san định, ghi rõ xuất xứ, cội rễ và chú thích. Thật là một điều đáng tiếc.
Năm 1945, nhà học giả Nguyễn Bách Khoa đã đưa ra ước muốn nói trên và thử đi bước đi đầu tiên cho việc san nhuận "Kinh thi Việt Nam ". Khởi kiến của ông, đến nay có thể cũ với ít người nhưng còn mới với nhiều người.
Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin giới thiệu với bạn đọc khảo luận "Kinh thi Việt Nam" của Nguyễn Bách Khoa cũng không ngoài mục đích ấy và hy vọng rằng với sự đóng góp nhỏ bé này, nay mai bộ "Kinh thi Việt Nam" ra đời chăng?" [11: 5 - 6].
Đoạn trích cho thấy, Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin chưa thực hiểu Kinh thi, chưa hiểu đúng những thành tựu cũng như hạn chế của công tác nghiên cứu, lí luận và việc biên soạn, chú giải thơ ca dân gian người Việt. Điều thiếu thuyết phục nhất là Nhà xuất bản đã đề cao Kinh thi Việt Nam của Nguyễn Bách Khoa (tức Trương Tửu) một cách không có cơ sở khoa học.
Về mặt chính trị, cho đến bây giờ, sau khi tác giả Trương Tửu đã qua đời, người ta không tìm thấy một chứng cớ gì để khẳng định rằng trước Cách mạng tháng Tám ông ta đã tham gia một nhóm phản động nào. Với tư cách người thầy trên bục giảng, ông là người say mê, tận tụy và nghiêm túc với nghề, "có biệt tài về sư phạm" [6:30]. Trương Tửu là người say mê với cái mới, nhưng kết quả nghiên cứu của ông lại chưa tương xứng với sự say mê ấy. Năm 2005, PGS. TS. Nguyễn Đăng Điệp nhận định: "Thời gian này Trương Tửu tuyên bố phê bình của ông là phê bình duy vật. Không thể không ghi nhận tâm huyết của Trương Tửu đối với văn học, ý thức tạo nên một hệ thống thao tác phân tích văn chương trên tinh thần mácxít. Chỉ có điều, con người mê say ấy lại là người chịu ảnh hưởng quá sâu quan điểm giai cấp luận và hệ quả, Trương Tửu là người rơi vào chủ nghĩa giáo điều" [4: 388 - 389]. "Thực ra mô hình nghiên cứu mà Trương Tửu dày công xây dựng xuất phát từ chỗ ông đã đơn giản hoá mệnh đề "không phải ý thức con người quyết định thực trạng của xã hội mà xã hội quyết định ý thức con người". Đúng là chủ nghĩa Mác khẳng định cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, nhưng các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác cũng nhấn mạnh đến tính độc lập tương đối của kiến trúc thượng tầng và sự trở lại của nó đối với cơ sở hạ tầng" [4: 389 - 390].
Đã đến lúc, chúng ta nên đánh giá Trương Tửu một cách công bằng. Chúng tôi tán thành nhận xét của Nguyễn Đăng Điệp: "Rốt cuộc, như con dã tràng, mê say công việc và văn chương, ao ước sáng tạo ra một phương pháp phê bình đặng cắt nghĩa văn học một cách khách quan và duy lí, nhưng cái phương pháp phê bình kia đã không giúp được gì nhiều cho ông. (...) Thậm chí, chính vì quá mê say và quá tự tin mà ông đã chịu nhiều oan ức. Nhưng, thay vì những định kiến về ông, cần phải hiểu Trương Tửu hơn vì một người say mê như ông đâu dễ gì có được, nhất là khi ai cũng biết, trong cái nghiệp văn này, muốn đổi mới thì tai vạ chắc chắn sẽ nhiều hơn là may mắn" [4: 392].
Tài liệu tham khảo
1. Đào Duy Anh (1989), Nhớ nghĩ chiều hôm, Nxb. Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.
2. Xuân Ba (2005), "Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam phong", Tiền phong chủ nhật, số 46 ra ngày 13 tháng 11.
3. Nguyễn Huệ Chi (2004), "Phạm Quỳnh", trong Từ điển văn học, chủ biên: Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá, Nxb. Thế giới, Hà Nội.
4. Nguyễn Đăng Điệp (2005), "Trương Tửu - Nguyễn Bách Khoa (1913 - 1999)", trong sách Lí luận phê bình văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX - 1945, Nguyễn Ngọc Thiện chủ biên, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
5. Nguyễn Công Hoan (1971), Đời viết văn của tôi, Nxb. Văn học, Hà Nội.
6. Nguyễn Văn Hoàn (2000), “Kỉ niệm về thầy Trương Tửu”, Giáo dục và thời đại, Hà Nội, số ra ngày 15 tháng 1.
7. Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam (2003), Từ điển bách khoa Việt Nam, tập 3, Nxb. Từ điển bách khoa, mục từ “Phạm Quỳnh”.
8. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên (1972), Văn học dân gian, tập I, Nxb. Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
9. Đinh Gia Khánh (chủ biên), Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (1997), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
10. Vũ Ngọc Khánh chủ biên (1993), Từ điển văn hoá Việt Nam . Phần Nhân vật chí, Nxb. Văn hoá - Thông tin, Hà Nội.
11. Nguyễn Bách Khoa (2000), Kinh thi Việt Nam , Nxb. Văn hoá - Thông tin tái bản, Hà Nội.
12. Nguyễn Xuân Kính (2001), "Một thế kỉ sưu tầm, nghiên cứu văn hoá văn nghệ dân gian Việt Nam ", Văn hoá dân gian, Hà Nội, số 2.
13. Đặng Thai Mai (1985), "Quá trình bồi dưỡng nghề viết văn của tôi", in trong tập sách nhiều tác giả: Công việc viết văn, Trường Viết văn Nguyễn Du xb, Hà Nội.
14. Nhiều tác giả (2000), Viện Viễn đông bác cổ Pháp tại Việt Nam . Nhìn lại một thế kỉ nghiên cứu khoa học, Nxb. Văn hoá - Thông tin, Hà Nội.
15. Võ Quang Nhơn (1983), Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam , Nxb. Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
16. Phạm Quỳnh (2006), Thượng Chi văn tập, Nxb. Văn học tái bản, Hà Nội.
17. Đỗ Lai Thuý (2006), "Đọc lại Tạp chí Nam phong và Phạm Quỳnh", Văn hoá nghệ thuật, Hà Nội, số 6.
Bài viết của chúng tôi là một phần kết quả của đề tài cấp bộ Đánh giá chương trình và kiến thức văn học dân gian trong sách giáo khoa trung học và trong giáo trình đại họcdo chúng tôi làm chủ nhiệm. Đề tài đã được Viện Khoa học xã hội Việt Nam nghiệm thu ngày 19 tháng 3 năm 2006. Khi bài viết này lên khuôn, chúng tôi kịp thời cập nhật bài của PGS. TS. Đỗ Lai Thúy. Tuy hai số tạp chí Văn hoá nghệ thuật (số 6) và Văn hoá dân gian (số 3) cùng ra trong tháng 6 năm 2006, nhưng số tạp chí Văn hoá nghệ thuật ra trước.
18. Đỗ Bình Trị (1991), Văn học dân gian Việt Nam, tập I, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
19. Trương Tửu (1940), Kinh thi Việt Nam .ở đây chúng tôi trích theo bản in của Nha xuất bản Liên hiệp, 1950.
20. Nguyễn Thị Thanh Xuân (2004), Phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX (1900 - 1945), Nxb. Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.








