Nâng cao quản lý an toàn và sức khoẻ trong tái sản xuất nông nghiệp ở Hàn Quốc
Tuy nhiên, mặt trái của những thành tựu này là việc người nông dân luôn bị đe doạ bởi các vấn đề bệnh tật, chẳng hạn như hội chứng nông dân và hội chứng nhà kính, song hành với chúng còn có các yếu tố mất an toàn phát sinh từ việc sử dụng máy móc, công cụ và hóa chất. Mặc dù gánh nặng kinh tế và xã hội mà người nông dân phải chịu đựng ngày càng gia tăng, nhưng sự can thiệp của Chính phủ còn xa mới có thể đáp ứng được những yêu cầu nhằm chống lại những thách thức đó. Biên độ của những thách thức này không dễ nhận thấy được, thậm chí đối với cả những người đang sống trong cộng đồng dân cư nông thôn.
Những cuộc đối thoại ở Tổ chức Thương mại thế giới và những Hiệp định về Tự do thương mại giữa các nước đang tạo ra áp lực gia tăng việc mở cửa thị trường nông nghiệp và việc này đã làm cho vấn đề càng trở nên tồi tệ hơn. Chính phủ Hàn Quốc đã đề ra các chính sách tăng cường giúp đỡ cộng đồng dân cư nông thôn, nơi người dân nợ nần chồng chất cùng với điều kiện sống nghèo nàn. Nói một cách khác, Chính phủ đã cố gắng thay đổi chính sách, từ việc tập trung phát triển công nghệ sản xuất nông nghiệp để nâng cao thu nhập của nông dân, sang việc phát triển cơ sở phúc lợi cho cộng đồng dân cư nông thôn.
Để tạo ra sự chuyển đổi thực sự, "Đạo luật đặc biệt về nâng cao mức sống của cộng đồng dân cư nông thôn và đẩy mạnh phát triển nông thôn" đã bắt đầu có hiệu lực từ tháng 3/2003, thêm vào đó là những chính sách định hướng phát triển phúc lợi cho cộng đồng dân cư nông thôn. Đạo luật còn bao gồm cả một loạt các dự án nhằm phòng chống bệnh tật và thương tích nông nghiệp hiệu quả.
![]() |
Trong bài báo này, các tác giả rà soát lại tình hình bệnh tật và thương tích liên quan tới lực lượng lao động nông nghiệp và những giải pháp phòng ngừa của Chính phủ, với hy vọng, bài báo sẽ góp phần hình thành một sơ đồ giảm thiểu rủi ro tốt hơn trong tương lai.
Thiệt hại kinh tế hình thành do thương tích nghề nghiệp trong sản xuất nông nghiệp
Theo báo cáo của Viện Lao động Quốc gia, trong năm 2005, thiệt hại kinh tế do thương tích nghề nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế là khoảng 15,1 tỷ đô la, trong đó, thiệt hại của ngành nông nghiệp là 3,1 tỷ đô la.
Bảng 1. Thiệt hại kinh tế hình thành do thương tích và nghề nghiệp (năm 2005)
Toàn nền kinh tế | Ngành nông nghiệp | ||
Tổng số lao động | Thiệt hại kinh tế a | Số lao động | Thiệt hại kinh tế ước tính b |
11.059.193 | 15.129 triệu đô la | 2.285.600 | 3.127 triệu đô la |
Ghi chú:
a - Theo Viện lao động Quốc gia;
b - Thiệt hại ước tính = (tổng thiệt hại kinh tế/tổng số lao động) x Số lao động của ngành nông nghiệp.
Rõ ràng là sự hỗ trợ của Chính phủ để xây dựng hệ thống đền bù hiệu quả vẫn chưa giải quyết được vấn đề tổn hại kinh tế to lớn hình thành do tai nạn và bệnh nghề nghiệp trong ngành nông nghiệp. Trong bối cảnh tương lại của nền kinh tế ngày càng ảm đạm như hiện nay thì càng cần phải nỗ lực để giảm thiểu tai nạn lao động và xây dựng một hệ thống đền bù thiệt hại tương ứng. Trong số các biện pháp hỗ trợ của Chính phủ, Cơ quan phát triển nông thôn (RDA) đặc biệt tập trung vào việc nghiên cứu và mở rộng thực hiện các dự án.
Các dự án của RDA về ngăn ngừa thương tích và bệnh nghề nghiệp
Các nghiên cứu về quản lý sức khoẻ
Sự thay đổi nhanh chóng về nhân khẩu học của lực lượng lao động nông nghiệp, chẳng hạn như sự già đi và sự gia tăng lao động nữ, đã làm tăng thêm gánh nặng cho những người làm việc trong ngành sản xuất nông nghiệp. Để giải quyết vấn đề này, từ năm 1984 đến năm 1997, Chính phủ Hàn Quốc đã cung cấp các tài liệu hướng dẫn quản lý sức khoẻ đối với từng loại hình canh tác, xây dựng được ba mô hình quản lý, bốn bộ chương trình và băng video thực hành với mục đích giúp giảm thiểu mệt mỏi do làm việc đồng áng.
Để điều tra về tình hình sức khoẻ thực tế của nông dân, những người phải làm việc trong điều kiện tồi tàn và công việc nặng nhọc, từ năm 1994 đến năm 2004, Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện các nghiên cứu thu thập dữ liệu theo chu kỳ 5 năm một lần, đồng thời còn tiến hành nghiên cứu thêm về "hội chứng nông dân". Từ năm 2000 đến nay, đã tiến hành nghiên cứu hiện trạng thương tích nghề nghiệp trong sản xuất nông nghiệp, thông qua một số dự án về đánh giá các yếu tố rủi ro của thương tích và bệnh nghề nghiệp. Trong các nghiên cứu này đã tiến hành phân tích ảnh hưởng của bệnh rối loạn cơ xương và hóa chất nông nghiệp đến hệ thần kinh và các chức năng miễn dịch, đánh giá các yếu tố rủi ro hóa học và sinh học khác. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, hệ thống quản lý tổng hợp đối với bệnh nghề nghiệp được thiết lập và sử dụng (xem tại địa chỉ trang web: www.farmer.rda.go.kr). Cũng dựa trên các kết quả nghiên cứu, 10 loại sách hướng dẫn bỏ túi về an toàn đã được xuất bản và phân phối tới các trung tâm sức khoẻ và các trung tâm kỹ thuật nông nghiệp để sử dụng.
Các nghiên cứu về tiêu hao năng lượng do thao tác công việc
Năm 1982, trong một nghiên cứu về tiêu hao năng lượng do Cơ quan phát triển nông thôn khởi xướng, Viện cải thiện dinh dưỡng nông thôn đã tiến hành khảo sát các thao tác công việc trong ngành sản xuất nông nghiệp, nhằm đưa ra một thực đơn cân bằng cho cộng đồng dân cư nông thôn. Kể từ đó, thông qua một loạt nghiên cứu như: "Tiêu hao năng lượng do thao tác công việc" năm 1982, "Giảm thiểu lao động nông nghiệp" năm 1989 và "Biểu đồ tiêu hao năng lượng đối với một số công việc nông nghiệp" năm 1993, Viện đã thông báo về kết quả đo đạc mức tiêu hao năng lượng do thao tác công việc.
![]() |
Năm 1995, trong ngành trồng cà chua và dâu tây, đã tiến hành xác định trọng lượng thực của các thùng đựng hoa quả, thông qua việc phân tích số giờ lao động tiêu chuẩn và sự kiệt quệ cơ bắp.
Năm 1998, trong công trình "Nghiên cứu về tiếp xúc với nhiệt và phản ứng của cơ thể", gánh nặng sinh học của những người làm việc trong môi trường lao động trong nhà có nhiệt độ cao đã được phân tích.
Nghiên cứu về tình hình lao động nữ với tỷ lệ sử dụng máy móc thiết bị được thực hiện năm 2000.
Trong công trình nghiên cứu "Đề xuất giải pháp trên cơ sở tải trọng công việc của phụ nữ trong lao động nông nghiệp" đã đề xuất việc giảm thiểu số lượng lao động nữ.
Bắt đầu từ việc đo đạc mức tiêu hao năng lượng do thao tác công việc trong những năm 1980, các công trình nghiên cứu đã theo đuổi mục tiêu là đưa ra các biện pháp khoa học nhằm giảm thiểu tải trọng công việc bằng các phương pháp nghiên cứu khác nhau.
Phát triển dụng cụ và quần áo lao động trong sản xuất nông nghiệp
Để giảm thiểu tải trọng công việc và sự mệt mỏi trong sản xuất nông nghiệp, các nhà nghiên cứu đã thiết kế và phân tích về hiệu quả của các dụng cụ để trồng hoa và cây ăn quả, chẳng hạn như ghế dài làm việc, ghế tựa di động và thang hái quả… Trong dự án "Nâng cao hiệu quả thu hoạch rau", đã đề xuất chế tạo xe chở rau quả. Sau khi đăng ký và nhận được bản quyền, đã chuyển giao công nghệ cho các công ty chế tạo.
Để đơn giản hóa các quá trình sản xuất nông nghiệp và giảm thiểu tải trọng công việc, nhóm nghiên cứu đã thu thập số liệu và xuất bản cuốn sách "Các nghiên cứu tình huống trong việc cải thiện các quá trình sản xuất nông nghiệp" và sáng chế thêm nhiều dụng cụ cho người trồng cây ăn quả, và sau khi thử nghiệm tại hiện trường, đã được cấp bằng sáng chế. Những dụng cụ này và công nghệ đi kèm cũng đã được chuyển giao cho các công ty chế tạo.
Trong thời kỳ từ năm 1994 đến 1998, nhóm nghiên cứu đã thiết kế quần áo làm việc ngoài đồng, găng tay làm vườn và ủng làm việc ngoài đồng để giúp tăng cường bảo vệ và hiệu quả làm việc. Sau đó, những mẫu trang bị bảo vệ cá nhân này đã được cấp bằng sáng chế và chuyển giao cho các công ty để sản xuất. Hiện nay, nhóm nghiên cứu đang cố gắng phát triển nhiều loại trang bị khác, bao gồm cả quần áo chống thuốc trừ sâu.
Đẩy mạnh công tác an toàn, sức khoẻ và quản lý công việc sản xuất
Phòng Đời sống nông thôn của Cơ quan Phát triển nông thôn đã có nhiều chương trình về môi trường lao động an toàn, hiệu quả và cải thiện điều kiện y tế. Các chương trình này bao gồm việc phân phát các dụng cụ phụ trợ và quần áo lao động, hỗ trợ các dụng cụ phụ trợ và quần áo lao động, hỗ trợ các trang thiết bị quản lý sức khỏe cho cộng đồng dân cư, cải thiện môi trường lao động, phòng chống thương tích và bệnh nghề nghiệp.
Bảng 2 Chương trình cải thiện công việc đồng áng của Cơ quan phát triển nông thôn (Nguồn: Cơ quan phát triển nông thôn, năm 2006)
Dự án | Nội dung | Thời gian | Kinh phí, đôla Mỹ |
Các trung tâm quản lý sức khoẻ | Trang thiết bị làm giảm mệt mỏi | 1996 - 2007 | 50.000 cho một thiết bị |
Cải thiện các quá trình làm việc | Dụng cụ nông nghiệp | 2001 - 2007 | 10.000 cho một dụng cụ |
Quy trình phân loại sản phẩm | Ghế dài phân loại sản phẩm | 2002 - 2007 | 1.500 - 3.200 cho một gia đình |
Dụng cụ trồng cây dâu tây | Ghế dài làm việc, xe chở hoa quả, ghế tựa | 2003 - 2007 | 1.000 cho một gia đình |
Làng an toàn | Tư vấn và giáo dục, dụng cụ nông nghiệp an toàn và vệ sinh, dịch vụ y tế… | 2006 - 2007 | 200.000 cho một làng trong thời gian 3 năm |
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành một dựa án mới về "Làng an toàn" với kinh phí là 200.000 đô la Mỹ cho mỗi làng nông thôn trong thời gian 3 năm. Việc sử dụng kinh phí là do lãnh đạo của làng quyết định, bao gồm việc thuê chuyên gia về an toàn và sức khoẻ sau khi đã đánh giá môi trường lao động và kiểm tra y tế để chứng minh là có bệnh nghề nghiệp. Các đối tác như các trường đại học, các công ty cung cấp hoá chất nông nghiệp, các công ty cung cấp máy móc thiết bị, Cục phòng chống cháy … và 8 trường cao đẳng y tế cùng phối hợp hỗ trợ cho dự án "Làng an toàn". Nông dân trong "Làng an toàn" được tập huấn thông qua các chương trình đào tạo về an toàn và sức khoẻ, thông qua tư vấn của chuyên gia và tự đánh giá về thái độ phòng chống đối với các yếu tố nguy hại. Chương trình can thiệp này sẽ là một phương pháp tiếp cận khả thi mà nông dân có thể tự thực hiện với sự giúp đỡ từ phía các nhóm tham gia khác.
Kết luận
![]() |
Chúng ta đã vừa xem xét tình hình thiệt hại kinh tế do thương tích và bệnh nghề nghiệp gây ra và thấy rằng dân cư nông thôn ở Hàn Quốc chịu nhiều rủi ro kinh tế hơn so với các ngành sản xuất khác. Ngoài việc thiếu số liệu thống kê, thì hiện nay mức độ nhận thức về việc đền bù thiệt hại do thương tích - bệnh nghề nghiệp và sự cần thiết phải có hệ thống quản lý đúng đắn còn đang ở mức thấp. Trong hoàn cảnh đó, rất khó đưa ra một kế hoạch chính sách cụ thể để nâng cao nhận thức và hỗ trợ nghiên cứu, hướng dẫn và đền bù. Về lâu dài, cần phải xem xét việc hỗ trợ luật pháp cho công tác an toàn và sức khoẻ cũng như hệ thống bảo hiểm. Cần tiến hành nghiên cứu sâu hơn để thiết lập một hệ thống quản lý an toàn và phòng ngừa hữu hiệu đối với thương tích và bệnh nghề nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp.











