Một vùng rộn tiếng chiêng ngân, voi gầm!
Từ xa xưa, cồng chiêng là thước đo sự giàu có, uy tín của một gia đình, dòng tộc. Trong hệ nhạc khí cổ truyền ở Việt Nam , cồng chiêng có một vị thế đặc biệt nổi bật, ít có nhạc khí nào bì kịp. Vị thế của nó bắt nguồn từ sự tổng hoà các giá trị văn hoá đa dạng bao chứa trong nó. Cồng chiêng Tây Nguyên là hiện vật giá trị sau voi. Những tù trưởng giàu có trong cộng đồng, theo quan niệm của đồng bào, không phải là người nhiều vàng bạc mà là người có nhiều chiêng, ché. Người nào có nhiều chiêng quý là giàu sang, là sức mạnh, được mọi người kính trọng. Dòng họ nào, làng nào có nhiều cồng chiêng sẽ được các dòng họ khác, làng khác nể nang, nghe theo. Già làng ở vùng ấy có thể tôn lên làm già làng cho cả một vùng, liên làng ( t’ring).
Ngày xưa, đồng bào thường dùng trâu, bò, ché quý để đổi cồng chiêng. Nhạc cụ này cũng không thể thiếu trong lễ hội, lễ cưới như đồ sính lễ quan trọng và bồi thường trong các trường hợp trọng tội theo luật tục. Theo quy định về vật ngang giá của người Mnông, một ché chà rungtrị giá bằng một con voi, một bộ chiêng xưa trị giá bằng 6 dĩk(nô lệ gia đình), một bộ chiêng rẻ nhất giá bằng một dĩk, một bộ cồng có 3 hoặc 4 chiếc chỉ tính một dĩk(1 dĩkbằng 6 con trâu có sừng dài một cẳng tay, tức độ dài từ cùi chỏ đến ngón tay giữa duỗi thẳng). Số lượng của chiêng thường chưa nói hết giá trị của nó mà quan trọng ở chỗ nó là loại chiêng gì. Bởi vì, có loại chiêng chỉ ngang giá vài con trâu nhưng cũng có loại chiêng giá trị tới 40 con trâu hay một tá tù binh, nô lệ.
Cá biệt có một gia đình ở xã Cư Drăm (Krông Bông, Dak Lăk) có một chiếc chiêng char ph’háchrất quý hiếm của dòng họ để lại có giá trị tương đương 12 nô lệ. Loại chiêng này được thiêng hoá và đồng bào không bao giờ bán. Chiêng thacủa người Brâu, chiêng xtengcủa người Xơ-đăng, chiêng knahcủa người Ê-đê có thể mang giá trị quy đổi lên tới 1 – 2 con voi hoặc 30 – 40 con trâu. Trải qua thời gian, các bộ cồng chiêng đã thực sự trở thành vô giá trong nghệ thuật của đồng bào Tây Nguyên.
Con người sinh ra đã nghe tiếng chiêng khi làm lễ đặt tên; đến lúc lâm chung nằm dưới lòng đất, tiếng chiêng ngân dài tiễn biệt trong lễ bỏ mả. Thông qua tiếng chiêng, các tộc người Tây Nguyên như gửi gắm tâm hồn mình, ước nguyện của mình với các thần linh. Tiếng chiêng thực sự đã gắn với đời sống của dân tộc, gắn với tâm linh của mỗi người. Từ nghệ thuật diễn xướng, tâm linh, cồng chiêng cũng đi vào văn học truyền miệng của đồng bào các dân tộc miền núi. Cồng chiêng đã đi vào kho tàng ca dao, dân ca, thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, sử thi của dân tộc Ê-đê, Gia-rai, Mnông… Cồng chiêng còn làm đệm cho hát hoặc đóng vai người “trò chuyện”, đối thoại với người hát kể sử thi. Đặc biệt, hình ảnh cồng chiêng rất gần gũi với lời ăn tiếng nói của dân gian thông qua ca dao, tục ngữ, thành ngữ… Nhiều bài chiêng đánh theo giai điệu bài dân ca, mỗi trường độ nốt tương ứng với một lời ca. Chiêng cồng đã tràn vào mọi khía cạnh cuộc sống con người.
Nếu nói cồng chiêng là âm điệu đặc trưng của Tây Nguyên thì con voi là vóc dáng oai phong của rừng núi, buôn làng. Voi mang lại cuộc sống giàu có, ấm no cho đồng bào và cũng là người bạn trung thành, biết làm những việc giúp con người thêm vui sống. Con voi cũng là một trong những động vật có giá trị nhiều mặt, đã được các cộng đồng người nguyên thuỷ chú trọng săn bắt và thuần dưỡng từ rất sớm nhằm huy động mọi tiềm năng của chúng vào công cuộc mưu sinh của con người. Từ xa xưa, cao nguyên Dak Lăk đã nổi tiếng là nơi có nhiều voi. Cho đến gần đây, tại Buôn Đôn, quê hương của những thợ săn voi còn giữ được nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng.
Voi đã trở thành biểu tượng của văn hoá, thiên nhiên của cao nguyên, một sức vóc mạnh mẽ, một hình ảnh đẹp đẽ, sống động của buôn làng, núi rừng. Voi là người bạn thuỷ chung, nghĩa tình nhất của con người. Voi chẳng những giúp ích rất nhiều cho sản xuất, phục vụ cuộc sống hàng ngày mà còn giúp sức bảo vệ cuộc sống bình yêu, chống lại giặc thù.
Vào thập niên 90 của thế kỷ vừa qua, tỉnh Dak Lăk có sáng kiến đứng ra tổ chức “hội voi” đã góp phần làm phong phú thêm sinh hoạt văn hoá - thể thao ở miền Trung Tây Nguyên (một số người ít hiểu biết đã ngộ nhận là “lễ hội”, “văn hoá truyền thống!” – BTV).
Hội voi ở đây là những cuộc trình diễn, giới thiệu văn hoá truyền thống ấn tượng của cư dân Tây Nguyên, là sinh hoạt hội hè mới hàng năm. Vào tháng ba đầy nắng gió, trời biếc xanh, những chú voi thợ khôn ngoan, “thiện chiến” từ các buôn làng được dẫn về tập trung tại xã Krông Ana (Buôn Đôn) dưới sự điều khiển của các nài voi tài giỏi tham gia ngày hội voi. Trên sân vận động nằm lọt giữa cánh rừng khộp, du khách được xem voi biểu diễn nhiều động tác, trò chơi độc đáo. Trước khi vào trò diễn chính, người ta được xem voi diễu hành, ngay ngắn tiến qua lễ đài và quỳ chào khán giả rất “lễ phép”. Môn thể thao lạ lẫm nhất là “đua voi”, tiếp đến là kéo vật nặng, ném gỗ. Trò chơi thể thao ngộ nghĩnh nhất, cuốn hút người xem là voi kéo co với người, đá bóng, nhảy theo điệu kèn đinh năm…
Thật không gì hứng thú bằng khi không phải vào rừng sâu vất vả để mục sở thị cảnh săn bắt voi rừng mà ngay trên sân vận động này, người ta cũng quan sát được từng động tác săn voi, những dụng cụ bắt voi, những cuộc rượt đuổi… để hình dung ra cuộc xung trận mạo hiểm, kỳ bí của những Gru trong bao lần đi săn voi rừng. Đó là tiết mục biểu diễn và cũng là động thái như một “bảo tàng sống” về nghề săn voi, khi cùng một lúc, quan khách được trông thấy những con voi thợ dũng mãnh, những Gruđầy kinh nghiệm, những dụng cụ săn bắt voi có nhiều công năng khác nhau như tù và, dây quăng tròng, móc tai, dùi nhọn, búa tốc độ… để có thể mường tượng được một phần văn hoá mưu sinh của đồng bào Mnông ở Tây Nguyên.
Những con voi hiền lành, ngoan ngoãn, luôn gắn bó với người, với buôn làng; âm thanh cồng chiêng rộn ràng trong mùa lễ hội đưa người xem trở về với cội nguồn văn hoá hoang sơ, hồn nhiên, đầy tính nhân văn. Liên hoan cồng chiêng và hội voi hàng năm ở Dak Lăk đã trở thành một hoạt động văn hoá - thể thao ấn tượng ở miền Trung Tây Nguyên. Đó cũng là những dịp để tôn vinh, giới thiệu văn hoá cồng chiêng vừa được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại.








