Một số ý kiến xung quanh dự án bể than đồng bằng sông Hồng
Về tiềm năng than ở đồng bằng sông Hồng, từ những năm 1961- 1975, trong quá trình khoan tìm kiếm thăm dò dầu khí ở Hưng Yên, Thái Bình, Liên đoàn Địa chất 36 (Tổng cục Địa chất) đã phát hiện nhiều vỉa than nâu ở dưới sâuvà cho rằng triển vọng than trong dải Khoái Châu- Tiền Hải dự báo tới 36 tỷ tấn. Đặc biệt từ năm 1977 đến 2007, Công ty địa chất mỏ (TKV) đã khoan với tổng chiều dài 43.416m khoan trong vùng đã phát hiện 100 vỉa than trong đó có 21 vỉa than có giá trị công nghhiệp.
Tổng hợp các tài liệu thu thập được, các nhà địa chất thuộc TKV đã nhận định bể than đồng bằng sông Hồng có tiềm năng than rất lớn, chất lượng than phù hợp cho sản xuất điện.
Bể than đồng bằng sông Hồng thuộc “miền võng Hà Nội” có diện tích khoảng 10.000 km2 bao gồm các tỉnh Bẳc Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Hà Tây, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam và Hà Nội. Vùng chứa than chủ yếu thuộc 2 tỉnh Hưng Yên và Thái Bình có 1 phần của các tỉnh Hải Dương, Nam Định, Hải Phòng, có diện tích khoảng 3500 km2 ở dưới sâu hàng ngàn mét dự báo có chứa khoảng 210 tỷ tấn tài nguyên than. Khu vực có chứa than nhiều nhất là dải Khoái Châu - Tiền Hải với diện tích khoảng 2.200 km2, dự báo có tài nguyên than khoảng 100 tỷ tấn, trong đó khu vực có triển vọng lớn có diện tích 1500 km2 với tài nguyên than dự báo là 65 tỷ tấn. Các số liệu về tài nguyên than ở đây chỉ mang tính dự báo. Để tính trữ luợng than đưa vào khai thác cần phải tiến hành thăm dò theo quy định hiện hành.
Về chất luợng, than đồng bằng sông Hồng là loại than nâu khá đồng nhất về thành phần vật chất giàu vitrinit, hàm lượng chất bốc cao, ít lưu huỳnh, độ tro trung bình thấp, nhiệt lượng tuơng đối cao, độ gắn kết tốt phù hợp cho các nhà máy nhiệt điện và sản xuất xi măng.
Chính phủ đã có quuyết định số1290/QĐ-TTg về việc ban hành danh mục quốc gia kêu gọi đầu tư nuớc ngoài thời kì 2006-2010, trong đó có dự án “Thăm dò, khai thác than đồng bằng Bắc Bộ” với vốn đầu tư dự báo 200-500 triệu USD (giai đoạn 1) với hình thức liên doanh. Bên cạnh đó, Thủ tướng cũng đã có quyết định số 89/2008/QĐ - TTg phê duyệt Chiến lược phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2025. Phấn đấu đến năm 2010 thăm dò tỉ mỉ một phần tài nguyên của bể than đồng bằng sông Hồng; đến năm 2015 thăm dò đánh giá xong phần tài nguyên của bể than. Trong giai đoạn đến năm 2020, đầu tư thử nghiệm một số dự án với công nghệ khai thác truyền thống bằng phương pháp hầm lò và công nghệ khí hóa than và than hoá lỏng để làm căn cứ cho việc đầu tư phát triển sau năm 2020.
Trên cơ sở các quyết định của Thủ tướng về việc thăm dò và khai thác thử nghiệm than đồng bằng sông Hồng, TKV đã lập đề án phát triển bể than đồng bằng sông Hồng trình Thủ tướng phê duyệt.
Đề án gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1, thực hiện đồng thời 2 nhiệm vụ lớn là triển khai thử nghiệm công nghệ tại các khu vực có mật độ các công trình thăm dò khảo sát địa chất lớn nhất (cụ thể là 3 mỏ ở Hưng yên và 1 mỏ ở Thái Bình), đồng thời thăm dò các khu vực còn lại để đưa vào khai thác trên quy mô lớn và đồng loạt khi có nhu cầu về than. Kinh phí cho giai đoạn 1 là 276,888 tỷ VNĐ.
Bộ Công Thương đã đề nghị Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam xem xét phản biện. Liên hiệp hội đã ủy quyền cho Tổng hội Địa chất Việt Nam tập hợp các chuyên gia am hiểu vấn đề than đồng bằng sông Hồng tham gia phản biện. Bản phản biện đã nêu rõ các điểm sau:
1. Đề án “Phát triển bể than đồng bằng sông Hồng” được Tập đoàn TKV xây dựng dựa theo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 76/Tb-VPCP, nhưng theo mục III điểm 5 thì Thủ tướng Chính phủ “Giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo Cục lập đề án điều tra đánh giá tổng thể tài nguyên bể than đồng bằng sông Hồng và vùng phụ cận”. Cho nên phần này không thuộc chức năng, nhiệm vụ của đề án này.
2. Đề án này không có các văn bản xét duyệt của tập đoàn TKV mà đã đưa trình duyệt cấp trên là trái với các quy định hiện hành của nhà nước.
3. Than nằm dưới vùng đồng bằng trù phú, dân cư đông đúc, có truyền thống văn hóa lâu đời, vì vậy phát triển bể than đồng bằng sông Hồng phải gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội, du lịch, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái.
4. Bể than đồng bằng sông Hồng có tài nguyên dự báo khoảng 210 tỷ tấn than nâu chất lượng cao, nhưng điều kiện địa chất thủy văn, địa chất công trình rất phức tạp, gây khó khăn trở ngại lớn cho công tác khai thác.
5. Khi khai thác phải đặc biệt chú ý đến vấn đề sụt lún, sụt lún tức thời, sụt lún lâu dài, sụt lún tại chỗ và sụt lún lan tỏa có thể biến đồng bằng phì nhiêu này thành hồ nước nhiễm mặn.
Khi tháo khô mỏ phải đặc biệt chú ý đến sự nhiễm mặn, sự xâm lấn của nước biển, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sự sống của con người, động thực vật vùng đồng bằng sông Hồng.
6. Khi khai thác than ở đồng bằng sông Hồng, có thể làm thiệt hại đến tài nguyên khoáng sản khác (tài nguyên nước, nước khoáng, dầu khí, địa nhiệt...).
7. Cần thiết phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược có sự tham gia của các bộ, ngành hữu quan, và được trình duyệt ở cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
8. Trong các đề án đã nêu thì chỉ có 1 dự án thử nghiệm công nghệ khí hóa than và một dự án thử nghiệm công nghệ hầm lò là cần thiết. Nhưng các dự án này phải được lập thành dự án đầu tư và trình các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét phê duyệt và cấp giấy phép. Sau khi dự án thử nghiệm công nghệ khí hóa than và thử nghiệm công nghệ khai thác hầm lò thành công và có hiệu quả kinh tế, trình Chính phủ xem xét quyết định các bước đi tiếp theo.








