Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 26/07/2010 21:53 (GMT+7)

Một số ý kiến về phát triển kinh tế nông, lâm, thủy sản vùng ven biển

Tình hình đánh bắt, nuôi trồng thủy sản biển, ven biển

Nguồn lợi thủy sản biển của Việt Nam được đánh giá vào loại phong phú trong khu vực. Ngoài cá biển là nguồn lợi chính, biển Việt Nam còn nhiều loại đặc sản khác có giá trị kinh tế cao như tôm, cua, mực, hải sâm, rong biển… Riêng cá biển đã phát hiện hơn 2.000 loài khác nhau, trong đó trên 100 loài có giá trị kinh tế cao với tổng trữ lượng hải sản khoảng 3-4 triệu tấn, khả năng cho phép khai thác 1,5-1,8 triệu tấn/năm. Đến nay, đã xác định 15 bãi cá lớn quan trọng, trong đó 12 bãi cá phân bố ở vùng ven bờ và 3 bãi cá ở các gò nổi ngoài khơi. Dọc các tỉnh ven biển, có trên 370.000 ha mặt nước các loại có khả năng nuôi trồng thủy sản nước mặn - lợ… Riêng diện tích nuôi tôm nước lợ có tới 300.000 ha. Ngoài ra, còn hơn 500.000 ha các eo vịnh nông và đầm phá ven bờ Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Phá Tam Giang, Vịnh Văn Phong… là môi trường rất thuận lợi để phát triển nuôi cá và đặc sản biển.

Từ năm 1993 đến nay, ngành đánh bắt, nuôi trồng thủy sản biển, ven biển được coi là ngành kinh tế mũi nhọn trong hệ thống ngành nông nghiệp, trong đó nghề đánh bắt thủy sản đã có những bước phát triển đáng kể. Trong giai đoạn 1995-2006, sản lượng thủy sản tăng bình quân 7,7%/năm, đạt gần 4,2 triệu tấn vào năm 2007, trong đó sản lượng đánh bắt đạt gần 2,1 triệu tấn (chiếm gần 50%), riêng đánh bắt thủy sản biển đạt trên 1,8 triệu tấn.

Tuy nhiên, sau vài thập kỷ tăng cường đánh bắt khai thác, nguồn lợi thủy sản biển đã giảm sút đáng kể về mật độ, chủng loại và kích thước… đặc biệt ở các vùng ven bờ, nơi tập trung trên 80% số phương tiện đánh bắt đã tạo ra 70-80% sản lượng đánh bắt của cả nước. Ba ngư trường quan trọng nhất là Hải Phòng - Quảng Ninh; Ninh Thuận - Bình Thuận và Cà Mau - Kiên Giang, tập trung khoảng trên 50% số phương tiện đánh bắt hàng năm. Sự thay đổi trên là nguyên nhân giảm năng suất, sản lượng khai thác của nhiều nhóm nghề. Đã và đang xuất hiện dư thừa cục bộ phương tiện đánh bắt thủy sản, công suất huy động của các tàu tham gia đánh bắt giảm dần, có tàu chỉ huy động khoảng 50%.

Từ năm 1997, Nhà nước đã đầu từ 1.300 tỷ đồng để giúp ngư dân đóng 1.292 chiếc tàu đánh bắt xa bờ theo Chương trình mục tiêu quốc gia, tuy nhiên Chương trình này không thành công. Nghề đánh bắt thủy sản đang gặp nhiều trở ngại lớn về rủi ro, cụ thể là số vụ tai nạn tàu cá có xu hướng tăng. Trong vòng 15 năm gần đây, mỗi năm xảy ra khoảng 500 vụ tai nạn tàu cá, gây thiệt hại đáng kể về người và tài sản, chỉ riêng ba tháng cuối năm 2006 và hai tháng đầu năm 2007 có gần 400 vụ, trong đó hơn 50% vụ tàu bị hỏng máy, vỏ bị phá nước. Bên cạnh đó, cướp biển trong những năm gần đây đang trở thành vấn đề phức tạp, tác động trực tiếp đến tâm lý ngư dân đánh bắt.

Do nghề nuôi trồng hải sản ven biển và hải đảo đòi hỏi vốn đầu tư lớn, nên thời gian qua chỉ các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp liên doanh và một số hộ nông dân có khả năng về vốn mới có khả năng đầu tư phát triển, sản xuất mang nặng tính tự phát ở hầu hết các vùng ven biển; Từng hộ, từng chủ doanh nghiệp tự lo sản nghiệp của mình, mà chưa cùng nhau hợp tác để cùng phát triển nuôi trồng trên diện tích rộng, quy mô sản phẩm hàng hóa lớn. Việc sử dụng diện tích mặt nước ven biển để nuôi trồng thủy sản biển chưa đáng kể. Khung pháp lý phục vụ cho thuê, giao trồng thủy sản chưa rõ ràng và còn nhiều bất cập, chính sách khuyến khích đầu tư, phát triển công nghệ và xây dựng cơ sở hạ tầng cho các vùng nuôi trồng tập trung hầu như chưa đáng kể, do vậy người nuôi trồng gặp nhiều khó khăn trong tổ chức sản xuất, kiểm soát thiên tai và dịch bệnh.

Trong nhiều năm qua, kinh tế hải đảo tiến triển một cách tự phát theo nhu cầu mưu sinh của người dân, thiếu hẳn chiến lược rõ ràng của Nhà nước. Thực tế, người dân ra đảo "định cư" vì sinh kế, do đó thường có tâm lý "có cái gì khai thác cái đó" nên hiện tượng phá rừng trên đảo, khai thác hải sản quá mức… diễn ra khá phổ biến. Ví dụ, đảo Cát Bà từng có cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, nhưng do quy hoạch, quản lý xây dựng kém nên đã xuất hiện một "Hải Phòng thu nhỏ" với những dãy nhà ống đơn điệu. Nguồn lợi hải sản cũng bị cạn kiệt nhanh chóng. Số lượng loài hải sản có mức độ nguy cấp đưa vào Sách Đỏ Việt Nam ngày càng tăng. Nghiên cứu của Viện Tài nguyên thế giới công bố năm 2002 cho thấy, 80% hệ sinh thái biển nằm trong tình trạng rủi ro, trong đó 50% là rủi ro cao. Đời sống của người dân trên đảo vẫn nằm trong vòng luẩn quẩn: Nhu cầu sinh kế - khai thác quá mức - cạn kiệt nguồn lợi - nghèo khó…

Thiếu quy hoạch tổng thể cũng như các quy hoạch chi tiết về phát triển kinh tế - xã hội hải đảo và việc áp dụng dập khuôn mô hình quản lý kinh tế - xã hội trong đất liền cho hải đảo đã cho thấy không phù hợp, bởi không gian kinh tế biển đảo hoàn toàn khác trong đất liền. Nếu các cơ quan quy hoạch, cơ quan hoạch định chính sách không nhận ra tính đặc thù của từng hòn đảo thì khó có thể phát triển kinh tế hải đảo thành công.

Một số định hướng về giải pháp phát triển nông, lâm, thủy sản và diêm nghiệp ven biển, hải đảo

Với cách tiếp cận trên đây, vùng kinh tế biển, ven biển ở các tỉnh có biển, cần phải xem xét, đánh giá đúng lợi thế của mình để lựa chọn giải pháp phù hợp và có hiệu quả cao nhất. Đối với ngành kinh tế nông, lâm, thủy sản và diêm nghiệp, lựa chọn định hướng và giải phát phát triển cần được xem xétt trong định hướng phát triển kinh tế-xã hội của từng vùng, có nghĩa là, cần phát triển những ngành sản phẩm thực sự có năng lực cạnh tranh, có thị trường và mang lại nhiều việc làm, thu nhập. Đây là vấn đề lớn, là thách thức đối với các tỉnh có biển hiện nay và đòi hỏi sự đầu tư nghiên cứu, nhằm lựa chọn định hướng dài hạn cho phát triển kinh tế nói chung và nông, lâm, thủy sản và diêm nghiệp nói riêng ở mỗi vùng.

Đối với những tỉnh có lợi thế tự nhiên mạnh về kinh tế thủy sản, chẳng hạn như ngư trường có nhiều cá (mật độ cá cao và ổn định trong năm), vùng ven biển rất thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản biển thì tiến hành quy hoạch phát triển thủy sản biển, bao gồm cả đánh bắt và nuôi trồng, đầu tư đủ mạnh vào xây dựng kết cấu hạ tầng cứng phục vụ cho hoạt động đánh bắt, nuôi trồng và chế biến hải sản. Cụ thể là:

Hoàn chỉnh các cảng thủy sản ven biển có điều kiện tập trung khối lượng sản phẩm đánh bắt lớn, tạo điều kiện nông dân chuyển đổi sang nuôi trồng và đánh bắt thủy sản biển có hiệu quả và ít rủi ro nhất.

Xây dựng một hệ thống chợ thủy sản ở các vùng trọng điểm đánh bắt và nuôi trồng kết hợp với thúc đẩy phát triển hệ thống chế biến sản phẩm thủy sản và hình thành các trung tâm tiêu thụ lớn của các vùng nuôi trồng tập trung (mô hình chợ thủy sản đầu mối).

Quy hoạch và đầu tư xây dựng các khu vực tránh bão cho ngư dân, đặc biệt những vùng có gió bão lớn từ Nam Trung Bộ trở ra Bắc và những tỉnh có mật độ tàu thuyền đánh cá cao. Giúp ngư dân giảm thiểu rủi ro vì bão.

Xây dựng các công trình cung cấp điện hạ thế, hệ thống đường giao thông tiếp cận với các vùng nuôi tập trung (thường khoảng 50 ha trở lên).

Quy hoạch phát triển các hoạt động dịch vụ cho đánh bắt và nuôi trồng thủy sản theo định hướng đã xác định như: mạng lưới dịch vụ cơ khí sửa chữa, bảo trì và cung cấp các linh kiện, phụ tùng cho các tàu thuyền đánh bắt thủy sản.

Thực hiện các chính sách khuyến khích đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, hoàn thiện quy hoạch chi tiết phát triển các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung và thiết kế các vùng nuôi tập trung; Các khu sản xuất giống nhằm đáp ứng nhu cầu nuôi trồng trong vùng. Triển khai các mô hình "thực hành nuôi tốt" ở các vùng nuôi trồng và hoàn thành việc mã hóa để xác định nguồn gốc sản phẩm được sản xuất ở các vùng nuôi trồng khác nhau.

Quy hoạch lại hệ thống chế biến thủy sản gắn với xuất khẩu và tiêu thụ nội địa, gắn với nhu cầu thị trường và khả năng cung ứng nguyên liệu theo hướng 100% các doanh nghiệp chế biến đảm bảo đủ tiêu chuẩn an toàn vệ sinh và thú y thủy sản theo tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế. Đẩy mạnh xây dựng thương hiệu cho sản phẩm thủy sản Việt Nam .

Đối với những tỉnh mà điều kiện tự nhiên, sinh thái không tạo ra năng lực cạnh tranh cao cho sản xuất nông nghiệp và phát triển thủy sản cả nuôi trồng và đánh bắt, thì chính sách kinh tế nông nghiệp ven biển nên hướng tới hướng dẫn và thúc đẩy người dân, doanh nghiệp chuyển mạnh sang các ngành khác, trong đó ưu tiên đầu tiên là ngành du lịch, dịch vụ phục vụ con người. Chẳng hạn như kết hợp du lịch với nghỉ ngơi, chữa bệnh, mua sắm để thu hút khách thập phương, từ đó tạo việc làm cho người dân tại chỗ cùng tham gia vào hoạt động kinh tế này. Từ định hướng trên, địa phương phải có chính sách thu hút đầu tư bên ngoài, chính sách đào tạo nguồn lực tại chỗ, chính sách chuyển đổi nghề cho nông dân và các chính sách hỗ trợ khác như tín dụng, thuế, khoa học, công nghệ có tính thúc đẩy đầu tư vào các vùng ven biển theo định hướng quy hoạch ổn định đã lựa chọn cho dài hạn. Bên cạnh đó, để nhanh chóng phát triển nghề muối đáp ứng nhu cầu trong nước và tiến tới xuất khẩu, trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện các biện pháp sau: Nghiên cứu bổ sung các chính sách về đầu tư, khoa học và công nghệ, đào tạo nhân lực, xúc tiến thương mại và hỗ trợ cho ngành muối.

Về kinh tế hải đảo, công việc quan trọng nhất hiện nay là phải xây dựng quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết về phát triển kinh tế hải đảo, trong đó xác định rõ hướng phát triển kinh tế từng đảo và cụm đảo gần nhau, tạo cơ sở đưa ra những chính sách và biện pháp phát triển kinh tế phù hợp cho từng nhóm đảo.

Cần nghiên cứu để xác định các nhóm đảo chỉ dành cho quốc phòng, nhóm đảo cho phát triển kinh tế gần với quốc phòng và nhóm đảo thuần về kinh tế. Chính sách phải thực sự cởi mở nhằm đến thu hút đầu tư, mở cửa cho cả nhà đầu tư nước ngoài theo yêu cầu phát triển kinh tế với nguyên tắc cùng có lợi, đảm bảo chủ quyền về lãnh thổ của Việt Nam . Áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ mới nhất cho các lĩnh vực kinh tế đảo, trong đó có việc giải quyết nguồn nước ngọt, sử dụng các nguồn năng lượng gió, mặt trời…

Căn cứ vào vị trí địa lý, điều kiện khí hậu, dân cư, tập quán và tổ chức sản xuất có thể chia làm ba nhóm đảo gồm: nhóm đảo tiền tiêu; nhóm đảo ven bờ; nhóm đảo có diện tích lớn, cơ sở hạ tầng và dân cư tương đối ổn định. Đối với từng nhóm đảo, định hướng phát triển thể hiện ở một số nội dung sau: Nhóm các đảo tiền tiêu bao gồm các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, đảo Trần, Bạch Long Vĩ, Cồn Cỏ, Phú Quý, Côn Đảo, Thổ Chu… Đây là các pháo đài, các căn cứ nổi, cần tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai tài nguyên biển, phát triển kinh tế kết hợp quốc phòng bảo vệ vùng biển; Nhóm các đảo ven bờ là cơ sở hậu cần hết sức thuận lợi cho nghề cá nhân dân, bao gồm nuôi trồng và đánh bắt. Đó cũng là nơi trú đậu của các đảo mà định hướng thu hút đầu tư vào từng đảo; Nhóm các đảo lớn đã có cư dân, cơ sở hạ tầng, cơ sở kinh tế, có nghề nghiệp và đời sống ổn định đã được Nhà nước đưa vào hệ thống các huyện đảo gồm Cô Tô (Cẩm Phả-Quảng Ninh); Cát Hải, Cát Bà (huyện Cát Hải), Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), Cù Lao Ré (Quảng Ngãi), Phú Quý (Bình Thuận), Côn Đảo (Bà Rịa-Vũng Tàu), Kiến Hải, Phú Quốc (Kiên Giang), Trường Sa (Khánh Hòa)…, cần được đầu tư có cơ chế đặc thù, phù hợp để trở thành những trung tâm kinh tế biển sầm uất và giầu mạnh của Việt Nam.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Lào Cai: Thúc đẩy tiếp cận tín dụng xanh trong chuỗi giá trị bảo vệ rừng
Ngày 5/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học Công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng (YENBAI CDSH) tổ chức Hội thảo “Tài chính vi mô, tín dụng xanh và khả năng tiếp cận vốn của các chủ thể kinh tế quy mô nhỏ trong chuỗi giá trị bảo vệ rừng”.
Lâm Đồng: Hội thảo Giải pháp phát triển kinh tế ban đêm đến năm 2030
Sáng 1/10, tại Trung tâm Hành chính tỉnh Lâm Đồng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học về phát triển kinh tế ban đêm tỉnh Lâm Đồng. Với sự tham dự của đại diện lãnh đạo UBND tỉnh, lãnh đạo các sở, ban, ngành, địa phương cùng gần 100 chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý và đại diện cộng đồng doanh nghiệp.
Đắk Lắk: Liên hiệp Hội - Thành viên tích cực của Mặt trận trong giai đoạn mới
Là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk phát huy vai trò tập hợp, đoàn kết đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ, làm cầu nối giữa trí thức với Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Trong giai đoạn mới, Liên hiệp Hội tỉnh tăng cường phối hợp, phát huy nguồn lực trí tuệ, góp phần củng cố khối đại đoàn kết và thúc đẩy Đắk Lắk phát triển bền vững.
Đại hội Liên hiệp Hội thành phố Cần Thơ lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 01 và 02/10/2026, tại thành phố Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP Cần Thơ đã long trọng tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031. ThS. Bùi Minh Châu, nguyên Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ, được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2026-2031, Ban Chấp hành gồm 36 thành viên.
Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam tham dự Diễn đàn Vi điện tử Toàn Nga 2026
Từ ngày 27/9 đến 3/10, tại Đại học Khoa học - Công nghệ Sirius, Lãnh thổ Liên bang Sirius, Liên bang Nga, đã diễn ra Diễn đàn Vi điện tử Toàn Nga 2026 - một trong những diễn đàn chuyên ngành lớn của Nga về phát triển vi điện tử, cơ sở linh kiện điện tử và các công nghệ điện tử liên quan.
5 nhà khoa học của Liên hiệp Hội Việt Nam được tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” năm 2026
Sáng 2/10/2026, tại Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tổ chức Chương trình tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” lần thứ VII và trao giải Cuộc thi “Sáng tạo kỹ thuật Nhà nông” toàn quốc lần thứ XI năm 2026. Trong số 42 cá nhân được tôn vinh năm nay có 5 nhà khoa học do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam giới thiệu.
Thanh Hoá: Kinh tế tuần hoàn, tín chỉ Carbon và mô hình sản xuất không phát thải
Ngày 30/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức và Viện Nông nghiệp Thanh Hóa tổ chức Diễn đàn khoa học với chủ đề “Kinh tế tuần hoàn và tín chỉ Carbon - Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất không phát thải tại Thanh Hóa”.
Đắk Lắk: Phát huy nguồn lực trí thức, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh
Trong giai đoạn 2026-2030, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yêu cầu quan trọng để Đắk Lắk khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực cho phát triển. Cùng với KHCN và CĐS, ĐMST cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động của các viện, trường hay doanh nghiệp công nghệ, mà là một phương thức tổ chức nguồn lực để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của địa phương.