Một số vấn đề về neo đậu tránh trú bão cho tàu thuyền nghề cá
Vùng nước neo đậu tàu
Chiều cao sóng giới hạn xuất hiện trong vùng nước neo đậu tàu được xác định một cách thích hợp có xét đến cỡ loại và đặc trưng bốc xếp hàng của tàu, phải nhỏ hơn quy định. Tốc độ dòng chảy trong vùng nước neo đậu tàu trong mọi trường hợp phải nhỏ hơn 2m/s.
Diện tích chuẩn vùng nước quay tàu như sau: quay mũi không có trợ giúp của tàu lai hình tròn có đường kính 3L. Quay mũi có dùng tàu lai – Hình tròn có đường kính 2L (L - chiều dài lớn nhất của tàu tính toán).
Đối với tàu nhỏ, công suất dưới 90CV khi diện tích chuẩn không thể đáp ứng được do điều kiện địa hình thì có thể giảm diện tích khu nước quay tàu bằng cách lợi dụng neo cập tàu, gió hoặc dòng triều: Quay mũi không có trợ giúp của tàu lai – hình tròn có đường kính 2L. Quay mũi có dùng tàu tai – Hình tròn có đường kính 1,5L.
Phao neo tàu phải đảm bảo ổn định và thoả mãn các điều kiện: Khi neo tàu, phao không bị chìm do lực căng của dây neo. Khi không neo tàu, phao phải nổi lên mặt nước với chiều cao mạn khô bằng 1/2 đến 1/3 chiều cao của phao. Tư thế của phao khi chưa sử dụng phải đảm bảo cân bằng. Các thiết bị của phao neo trước khi sử dụng phải được Đăng kiểm Việt Nam kiểm định an toàn.
Trên luồng tàu phải có đèn báo cửa và hệ thống báo hiệu dẫn đường bảo đảm cho tàu ra vào an toàn cả ngày lẫn đêm. Vị trí đèn báo hiệu cửa biển, cửa sông, nơi có tuyến luồng dẫn vào khu neo đậu tránh trú bão phải đảm bảo cho người đi biển định hướng và xác định vị trí của tàu mình, màu sắc, hình dáng và kích thước phải đảm bảo khả năng nhận biết dễ dàng bằng mắt thường hoặc bằng các thiết bị máy móc hàng hải của tàu.
Để đảm bảo neo tàu bằng phao neo, tàu tự thả neo, neo vào các trụ neo độc lập ven bờ hoặc bệ neo trên bờ, chất đáy phải là bùn sét, sét, sét pha, cát pha, cát. Trong trường hợp chất đáy vùng nước neo đậu tàu là đá hoặc cuội sỏi thì chỉ được phép dùng hình thức neo tàu thông qua phao neo gắn với rùa và chỉ sử dụng trong điều kiện đặc biệt.
Điều động, neo buộc tàu tránh trú bão
Đối với khu neo đậu trú bão cho tàu cá bảo đảm các yêu cầu kỹ thuật (lặng sóng, kín gió, luồng hẹp) ở các cửa sông, dọc các triền sông thì có thể neo buộc cố định vào các trụ neo độc lập dọc bờ, bệ neo dọc bờ, mũi tàu hướng ra ngoài bờ. Khi neo tàu vào các trụ neo, có thể neo 3 tàu vào một trụ đối với các tàu có công suất từ 90cv trở xuống, giữa các tàu phải có đệm chống va. Vị trí của tàu so với bờ tạo thành một góc 45 ođể khi có tình huống khẩn cấp tàu có thể quay trở dễ dàng. Những tàu có công suất lớn hơn 90CV thì mỗi trụ neo chỉ được neo một tàu.
Khi trong vùng neo đậu có nhiều tàu, để việc neo tàu không ảnh hưởng đến việc di chuyển của các tàu khác, đồng thời giảm sức căng của dây neo khi chịu tác động của sóng, có thể dùng một vật bằng kim loại treo vào dây neo, trọng lượng của vật bằng khoảng 1/2 trọng lượng neo.
Đối với những khu neo đậu không đáp ứng những yêu cầu bảo đảm an toàn cho tránh trú bão như kín gió, lặng sóng theo quy định (vũng vịnh ven biển, ven các đảo, các đầm có mặt nước rộng), thì không được neo buộc cố định. Trong trường hợp đó phải neo tàu trong vùng nước bằng 1 neo hoặc 2 neo để cho tàu quay trở theo sóng và gió. Nếu ở chỗ neo đậu có dòng chảy lớn thì cần cho tàu chạy vào chỗ neo đậu theo hướng ngược dòng. Cần chú ý rằng, khoảng cách giữa tàu và bờ phải bảo đảm đủ để tàu không bị va quệt vào bờ khi chịu tác động của sóng gió. Tác động của sóng đối với tàu là lớn nhất khi tàu chạy ngang sóng hoặc xuôi sóng. Trong trường hợp tàu không thể chạy kịp vào nơi trú ẩn cũng như không thể điều khiển được mũi tàu về hướng gió, cần phải sử dụng phao neo, nhất là tại vùng nước có độ sâu lớn, để giảm tác động của sóng, hạn chế độ nghiêng của tàu. Tốc độ của tàu khi chạy trong sóng phải tương đương với tốc độ sóng, nghĩa là tàu phải chuyển động theo sóng.
Sau khi neo, cần kiểm tra hệ thống dây neo, dây chằng buộc trên tàu, độ sâu dưới đáy tàu để đảm bảo phần chìm của tàu (trong đó có chân vịt) không bị va quệt vào đáy vùng nước neo đậu. Chiều dài của cáp neo tối thiểu không nhỏ hơn 3 lần chiều dài tàu hoặc 3 – 5 lần độ sâu vùng nước neo đậu.
Đối với các tàu nhỏ công suất dưới 20CV tốt nhất là kéo tàu lên cạn trên các bãi bùn đất hoặc các bãi cát ven vịnh, đảo.
Bão có ảnh hưởng rất lớn đối với khu neo đậu ven biển, quanh các đảo trên biển gây nên sóng lớn, gió lớn do đó neo đậu tàu cá ở những khu vực này cần phải chú ý một số vấn đề như: đối với tàu thuyền có công suất dưới 20 CV, cần tháo máy kéo vỏ tàu lên bờ. Đối với tàu có công suất từ 20 CV đến 90 CV, đưa tàu tránh xa khu vực tâm bão có thể đi qua, tốt nhất là chạy vào bờ, đi sâu vào nội địa hoặc khu neo đậu kín gió. Đối với tàu có công suất trên 90 CV có khả năng hoạt động được ở vùng biển xa bờ, cần neo đậu ở khu vực có sự che chắn của đảo hoặc có đê ngăn sóng. Đưa tàu ra xa khu vực cầu cảng để tránh bão, vì nếu neo buộc tàu vào cầu cảng sóng có thể đẩy tàu đập vào cầu cảng gây vỡ tàu. Neo tàu hướng mũi tàu về hướng gió, hướng sóng; tàu neo cách xa nhau. Neo bằng phao nổi hoặc thả neo. Chiều dài của dây neo không được nhỏ hơn 3 lần chiều dài tàu hoặc 3 – 5 lần độ sâu của vùng nước neo tàu.
Đối với tàu có công suất trên 20 CV, cần phân chia khu neo đậu cho từng loại tàu: Khu vực dành cho tàu có công suất từ 20 CV đến 90 CV. Khu vực dành cho tàu có công suất từ 90 CV đến 250 CV. Khu vực dành cho tàu có công suất trên 250 CV neo hướng đuôi tàu vào bờ, để tránh trường hợp sóng, gió lớn đẩy tàu vào bờ. Phần đuôi tàu có kết cấu vững hơn tránh vỡ mũi tàu. Chừa lối cho tàu di chuyển trong khu vực neo đậu. Đối với tàu có công suất nhỏ hơn 90 CV có thể neo 3 tàu gần nhau, buộc vào 1 trụ neo. Giữa các tàu phải có đệm chống va đủ lớn để tránh khi sóng gió hai tàu va đập vào nhau gây hư hỏng. Đối với tàu có công suất trên 90 CV các tàu neo độc lập và khoảng cách giữa hai tàu tối thiểu là 5 mét; hai bên mạn tàu trang bị đệm chống va để tránh trường hợp khi sóng, gió đẩy hai tàu gần nhau. Không buộc dây neo quá căng để khi sóng làm tàu lắc không ảnh hưởng lớn đến trụ neo và dây neo.
Tàu neo đậu ở khu vực sông: Đối với sông khu vực miền Bắc (từ Quảng Ninh đến Ninh Bình); miền Nam (từ Bình Thuận - Kiên Giang). Đối với hệ thống sông khu vực miền Bắc, miền Nam độ dốc không lớn, dòng chảy không mạnh nên khi tàu thuyền neo đậu ở các khu vực sông không chịu ảnh hưởng của dòng chảy nhiều. Khi có bão, áp thấp nhiệt đới, cho tàu đi sâu vào trong sông và neo tàu vào sát bờ sông hoặc vào trong các rạch.
Đối với sông khu vực miền Trung (từ Thanh Hoa đến Ninh Thuận). Hệ thống sông khu vực miền Trung có độ dốc lớn, khi mưa bão thường kèm theo lũ nên nước chảy xiết ở khu vực cửa sông, vì vậy không neo tàu. Ở cửa sông để tránh nước chảy xiết đứt dây neo hoặc đẩy tàu vào bờ gây hư hỏng tàu. Do đó cần chú ý đưa tàu vào sâu trong sông, neo mũi tàu ngược với hướng dòng chảy. Neo tàu cách xa kè bờ cứng bằng đá, bê tông và hệ thống cọc kè bờ sông để tránh khi nước sông chảy xiết kết hợp gió bão đẩy tàu vào bờ gây hư hỏng tàu.
Khu vực bãi ngang thường là tàu thuyền nhỏ, do đó cần chú ý: Tàu lớn không kéo được vào bờ thì cho tàu đi sâu vào sông, rạch hoặc khu neo đậu trú bão cho tàu cá. Đối với tàu nhỏ tháo máy kéo tàu lên bờ hoặc đánh chìm tàu.








