Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 25/06/2009 19:50 (GMT+7)

Một số vấn đề của thuật ngữ tiếng Việt trong thời kỳ đổi mới và hội nhập

Tại hội thảo có hơn 11 báo cáo được giới thiệu: TS Dương Kỳ Đức(Hội Ngôn ngữ học Việt Nam) - Vai trò của hội đoàn thường dân và của văn hoá ngôn hành trong vấn đề chuẩn hoá thuật ngữ; GS. TS Lê Quang Thiêm(ĐHKHXH & NV Hà Nội) - Hệ hình ngữ nghĩa từ vựng (Góp một định hướng cho từ điển giải thích thuật ngữ); PGS. TS Tô Bá Trọng(Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam ) - Xây dựng hệ thống thuật ngữ khoa học thống nhất - một yêu cầu bức thiết; PGS. TS Hà Quang Năng(Viện Từ điển và bách khoa thư VN) - Một số nhận xét về đặc điểm của thuật ngữ tiếng Việt; PGS. TS Phạm Văn Tình(Viện Từ điển và Bách khoa thư VN) - Vấn đề tính thống nhất của một hệ thống thuật ngữ chuyên ngành; TS Nguyễn Thị Kim Thanh(ĐH Bách khoa HN) - Những nhận xét tổng quan về thuật ngữ tin học - viễn thông tiếng Việt; Phạm Văn Thiều(Hội Vật lí VN) - Một số ý kiến về việc sử dụng ngôn ngữ trong sách giáo khoa vật lí; TS Nguyễn Thị Thu Vân(Học viện Hành chính QG) - Những bất cập về sử dụng, giải thích thuật ngữ trong văn bản quản lí nhà nước và giải pháp khắc phục; Lưu Kiếm Thanh(Học viện Hành chính QG) - Về tính chính xác sử dụng từ ngữ trong văn bản lập quy; ThS. Nguyễn Thị Hà (Học viện Hành chính QG) - Tìm hiểu về cách sử dụng thuật ngữ trong các văn bản pháp luật.

Từ nội dung các báo cáo toát lên một số điểm đáng chú ý sau đây:

1. Chuẩn hoá và thống nhất thuật ngữ tiếng Việt là một sự nghiệp quan trọng được quan tâm cả từ phía nhà nước lẫn từ phía xã hội: Theo TS Dương Kỳ Đức, về phía nhà nước, hành động quản lí gần đây nhất là quyết định số 240/QĐ ngày 5 tháng 3 năm 1984 ban hành “Quy định về chính tả tiếng Việt và vè thuật ngữ tiếng Việt” áp dụng cho các sách giáo khoa, báo và văn bản của ngành giáo dục. Nhưng tính đến nay cũng đã gần 25 năm trôi qua rồi, về phía nhà nước ta chưa thấy có động thái gì mới, mà tình trạng lộn xộn trong thuật ngữ tiếng Việt, nhất là trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, thì ngày càng phổ biến. PGS. TS Bùi Hiền chỉ ra một số hiện tượng nổi cộm, gây bức xúc đã lâu, trong đó có hiện tượng quá nhiều các kiểu thuật ngữ đồng nghĩa (chẳng hạn như: người hâm mộ - fan hâm mộ, tin tặc - hacker, nhà nghỉ dưỡng - resort, cập nhật - update…). Thuật ngữ tiếng Anh đang bị lạm dụng, lấn át, thay thế các thuật ngữ tiếng Việt tương đương và đang góp phần phá vỡ sự ổn định của tiếng Việt.

Còn theo PGS. TS Hà Quang Năng, từ những năm của thập niên 90 trở lại đây, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế nước ta, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đã thúc đẩy thuật ngữ kinh tế, thương mại, tin học, viễn thông phát triển vượt bậc. Trong sự phát triển vô cùng mạnh mẽ của thuật ngữ hơn nửa thế kỷ qua, có nơi, có lúc, sự phát triển ồ ạt đã không tránh khỏi những hiện tượng không lành mạnh. Tuy nhiên, về cơ bản, thuật ngữ tiếng Việt đã có định hướng phát triển đúng,dần dần đi vào con đường khoa học, dân tộc, đại chúng,vừa làm cho từ vựng tiếng Việt phong phú thêm, góp phần giữ gìn và phát huy khả năng to lớn và tính trong sáng của tiếng Việt.

2. PGS. TS Tô Bá Trọng, ngoài việc ủng hộ các tiêu chí khoa học, dân tộc, đại chúng còn bàn thêm:

Từ thực trạng đất nước ta còn tương đối nghèo và chậm phát triển, có thể nảy sinh ý kiến cho rằng cần phải ưu tiên cho tiêu chí hội nhập quốc tế , có thể tiếp thu trực tiếp nguyên bản hoặc phiên dịch các thuật ngữ nước ngoài và áp dụng cho các hoạt động khoa học ở trong nước. Điều đó có thể phù hợp và tạo điều kiện thuận lợi trước mắt cho một số người. Nhưng nhìn về lâu dài và để phục vụ đông đảo nhân dân cần lưu ý một số điều. Với đặc điểm là tính đơn âm tiết và tính đa thanh điệu, tiếng Việt có nhiều thuận lợi trong sự hình thành các thuật ngữ. Những thuật ngữ thuần Việt được người Việt Nam đọc, viết và hiểu dễ dàng hơn các từ ngoại quốc. Việc xây dựng và sử dụng các thuật ngữ thuần Việt đã từng là một ưu điểm và thành tựu lớn của các nhà khoa học tiền bối của nước ta. Ngay cả khi phiên dịch thì cũng cần phải Việt hoá tối đa các thuật ngữ khoa học được sử dụng. Đây cũng là một cách thể hiện bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam . Vì vậy, các yếu tố truyền thống dân tộc nên được xem xét ưu tiên. Tuy nhiên, điều đó không hề cản trở việc tiếp thu nguyên bản một số thuật ngữ khoa học chuyên sâu, mới xuất hiện, đã trở thành phổ biến trong nhiều ngôn ngữ và việc chuyển sang tiếng Việt gặp nhiều khó khăn.

3. Về các giải pháp, theo PGS TS Tô Bá Trọng, cần thiết phải tập hợp được một đội ngũ các nhà khoa học đầu ngành, có trình độ cao về chuyên môn, lại thông thạo tiếng Việt, đại diện cho một số trung tâm khoa học trong cả nước và đặc biệt là có tâm huyết với công việc cần sự thận trọng, kiên nhẫn và tỉ mỉ này. Ngày nay, mỗi ngành khoa học đều tác động hoặc ít hoặc nhiều đến các ngành khoa học khác. Thậm chí, giữa một số ngành khoa học gần gũi còn hình thành các lĩnh vực chuyên môn liên ngành. Trong tình hình đó, sự tham gia của các chuyên gia thuộc các ngành khoa học lân cận sẽ góp phần đảm bảo chất lượng và tính phổ biến cho các thuật ngữ khoa học được chọn lọc hoặc xây dựng. Thuật ngữ gắn liền với từ và ngữ. Thành thử, các chuyên gia ngôn ngữ học rất đáng được hoan nghênh trong các hoạt động xây dựng thuật ngữ, góp phần làm cho các thuật ngữ được sử dụng thực sự trở thành thuật ngữ khoa học của người Việt Nam .

Do những nguyên nhân khác nhau, nếu nảy sinh sự bất đồng đối với một thuật ngữ khoa học nào đó thì cũng là điều khó tránh khỏi. Trong những trường hợp đó, điều quan trọng là sự thiện chí, thực sự cầu thị, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhau,cùng nhau thảo luận trên tinh thần cởi mở, xây dựng để đi đến sự đồng thuận. Những biểu hiện cục bộ, cố chấp, thậm chí hiếu thắng, bài xích lẫn nhau đều không góp phần thực hiện thành công một nhiệm vụ cao cả, xứng đáng với đội ngũ trí thức khoa học nước nhà.

Theo PGS TS Bùi Hiền, để đáp ứng yêu cầu đó của thực tiễn trước hết có lẽ cần phải cùng nhau bắt tay ngay vào giải quyết một số công việc cấp bách nhấtsau đây:

1/ Thành lập Hội đồng thuật ngữ nhà nước để rà soát, bổ sung và khẳng định lại nội dung của những nguyên tắc xây dựng thuật ngữ chung cho tất cả các ngành đã được Bộ Giáo dục ban hành năm 1983, nhất là các nguyên tắc khoa học, dân tộc, quốc tế và hệ thống, sau đó làm tờ trình Chính phủ cho ban hành “Bộ quy tắc chuẩn hoá thuật ngữ tiếng Việt” kèm theo pháp lệnh thi hành trong cả nước.

2/ Thành lập các Hội đồng thuật ngữ chuyên ngành để chọn đủ danh mục thuật ngữ chính thức cho ngành mình (không dùng nhiều thuật ngữ cùng chỉ chung một khái niệm để tiết kiệm ngôn ngữ, tránh phức tạp và gây lầm lẫn), sau đó tiến hành biên soạn lại hoặc làm mới bộ từ điển thuật ngữ tường giải của ngành để bắt buộc áp dụng chung trong cả nước, trước hết là đối với ngành giáo dục, ngành tư pháp và các cơ quan thông tin đại chúng trung ương (đài phát thanh, đài truyền hình, báo chí, internet).

3/ Thành lập Hội đồng thuật ngữ liên ngành để biên soạn bộ từ điển viết tắt bằng chữ cái latin chung cho tất cả các ngành, có chủ thích cách viết đầy đủ, và nếu là tiếng nước ngoài thì cho dịch nghĩa cùng với cách đọc thống nhất theo âm chuẩn của chữ cái tiếng Việt bất luận xuất xứ từ tiếng nào.

Vận dụng loại suy hệ hình liên tưởng của ngôn ngữ học đại cương vào lĩnh vực ngữ nghĩa từ vựng, GS. TS Lê Quang Thiêm đề xuất một hệ hình ngữ nghĩa mới, gồm ba tầng nghĩa (trí tuệ, thực tiễn và biểu tượng) với sáu kiểu nghĩa (mỗi tầng có hai kiểu, tương ứng là: biểu niệm và biểu hiện, biểu thị và biểu chỉ, biểu trưng và biểu tượng). Áp dụng lí thuyết của mình vào thực tiễn từ điển học, ông chủ trương cần khai thác biên soạn từ điển thuật ngữ chuyên ngành.Hơn nữa thế kỷ vừa qua từ khi bắt đầu xây dựng thuật ngữ đến nay chúng ta đã có hàng ngàn từ điển chuyển dịch thuật ngữ thuộc mấy trăm ngành, chuyên ngành khoa học, công nghệ và dịch vụ khác nhau (*). Hiện nay đã đến lúc bắt đầu chuẩn hoá và xây dựng các từ điển khoa học kĩ thuật công nghệ giải thích. Bước chuyển này cần thiết nếu không sẽ muộn. Bắt đầu chuẩn hoá và giải thích thuật ngữ Việt Nam là một công việc nhằm ba đích. Một là duyệt lại, chuẩn hoá thuật ngữ tiếng Việt, hai là giải thích chính xác nội dung để nâng cao dân trí, ba là thực hiện Việt hoá chiều sâu, hạn chế nệ ngoại, vay mượn thiếu chọn lọc không cần thiết. Công việc có thể bắt đầu từ những ngành, chuyên ngành có truyền thống, có lực lượng tốt rồi mở rộng ra.

Như vậy trong phổ hệ các kiểu nghĩa cần thiết bắt đầu khai thác kiểu nghĩa khái niệm khoa họcthuộc tầng nghĩa trí tuệ. Hai tầng nghĩa còn lại dành cho từ điển ngữ văn cỡ lớnnhiều tập mà nay đã trở thành nhu cầu bức thiết. Nếu phối hợp nhịp nhàng hai hướng nói trên sẽ tạo điều kiện tư liệu và trí thức xây dựng.

Bách khoa toàn thư Việt Namthành tựu trong thế kỷ XXI chấn hưng và phát triển của đất nước đầy khí thế và triển vọngthành công tốt đẹp như hiện nay.

Còn TS Dương Kỳ Đức lại đề xuất một cách tiếp cận mà ông gọi là cách tiếp cận xã hội – văn hoá.

Theo hướng tiếp cận này, ta cần phải huy động nguồn lực xã hộimà thành phần nòng cốt có tổ chức của nó chính là các hội đoàn thường dân,những tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Các hội đoàn thường dân tinh tuý phần lớn đã quy tụ trong Liên hiệp các hội khoa học và kĩ thuật Việt Nam . Đó là một nguồn lực trí tuệ đẳng cấp cao, hoạt động phục vụ cộng đồng theo tinh thần dâng hiến, phi lợi nhuận.

Huy động nguồn lực của các hội đoàn thường dân trong công cuộc chuẩn hoá thuật ngữ tiếng Việt là rất thích hợp. Đó là vì lí do sau đây. Chuẩn ngôn ngữ không phải là một thứ luật pháp do nhà nước đặt ra, tức là phép nước, khiến mọi người bắt buộc phải thi hành. Nó chỉ là một thứ quy ước xã hội, hình thành một cách tự nhiên và đa số thành viên của cộng đồng có ý thức tuân theo. Nói cách khác, chuẩn ngôn ngữ là một thứ lệ tục xã hội, tức là tổng thể thói quen hay động hình xã hội được một cộng đồng chấp nhận là phải như vậy, chứ không phải là thế khác. Khởi xướng, duy trì, hoàn thiện các quy ước, các lệ tục xã hội trong lãnh vực ngôn ngữ nghề nghiệp, vì lẽ đó, không ít tốt hơn là các hội đoàn thường dân trong từng ngành nghề, chuyên môn.

Cũng theo cách tiếp cận xã hội – văn hoá, ta xem việc sử dụng thuật ngữ nói riêng, tiếng Việt nói chung hiện nay như là một hoạt động, một ứng xử,một biểu hiện văn hoá dân tộc.Ta gọi đó là băn hoá ngôn hành. Muốn giải quyết tình trạng bất cập hiện nay của thuật ngữ tiếng Việt phải đi tìm căn nguyên văn hoá chungcủa nó. Chừng nào văn hoá của cộng đồng được nâng cao thì văn hoá ngôn hành cũng theo đó mà tăng lên, hoặc ngược lại, cũng sẽ xuống cấp theo sự xuống cấp của văn hoá chung của cộng đồng.

Tóm lại, theo cách tiếp cận xã hội – văn hoácủa Dương Kỳ Đức trong vấn đề thuật ngữ tiếng Việt, nên chăng, phải dựa vào các hội đoàn thường dântrong Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam và giải quyết vấn đề này như một mặt của văn hoá ngôn hành.

Theo dự kiến của Hội Ngôn ngữ học Việt Nam , đây mới chỉ là cuộc hội thảo tư vấn đầu tiên. Tiếp theo sẽ còn có một số cuộc hội thảo khác đi sâu vào từng vấn đề lớn của sự nghiệp chuẩn hoá thuật ngữ. Ngoài ra, trên tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống của Hội, sẽ mở diễn đàn thuật ngữ để các nhà khoa học thảo luận và đưa ra các khuyến nghị từ những vấn đề lớn đến những vấn đề nhỏ.

(*) Theo tài liệu thống kê của chúng tôi, hiện nay chúng ta đã có từ điển chuyển dịch thuật ngữ chuyên ngành và tổng hợp trên 365 ngành có từ điển ấn bản.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh được trao tặng Huân chương Độc lập
Chiều ngày 3/4, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chủ trì buổi Lễ trao tặng các danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước. GS.VS. Châu Văn Minh, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Đảng ủy VUSTA đã được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Đây là phần thưởng cao quý ghi nhận những đóng góp đặc biệt xuất sắc của ông cho sự nghiệp khoa học và xây dựng đất nước.
Hội Tự động hóa Việt Nam tham dự CMES Shanghai 2026, tăng cường kết nối giao thương quốc tế
Từ ngày 23 đến 26/3/2026, tại Thượng Hải, Trung Quốc, Triển lãm Quốc tế Máy công cụ và Công nghệ chế tạo CMES Shanghai 2026 đã diễn ra sôi động, thu hút sự tham gia của đông đảo doanh nghiệp và chuyên gia trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, tự động hóa và sản xuất thông minh trên toàn cầu.
Công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ
Sáng 1/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ đối với 5 cơ quan. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự hội nghị. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao các quyết định và phát biểu ý kiến chỉ đạo.
Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo
Chiều 30/3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dự lễ trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ.
Đổi mới công tác tư vấn, phản biện: “Chìa khóa” để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
Giới chuyên môn nhận định, chuyển đổi số và AI sẽ tạo bước đột phá cho công tác tư vấn, phản biện nhờ sự giao thoa giữa trí tuệ chuyên gia, sức mạnh dữ liệu cùng các công cụ phân tích hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn phản biện hiện chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết phải làm chủ các nền tảng số và phương pháp phân tích hiện đại để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn.
Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”
Ngày 27/3/2026, tại Trường Đại học Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”. Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, Trường Đại học Hải Phòng, Đại học Phenikaa, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đồng tổ chức.
Phú Thọ: Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày 28/3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.