Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 28/09/2010 18:44 (GMT+7)

Một số nội dung cơ bản trong chính sách hướng Đông của Ấn Độ

1. Thời điểm ra đời, phạm vi và các giai đoạn phát triển của chính sách hướng Đông

1.1. Thời điểm ra đời của chính sách hướng đông

Thuật ngữ “chính sách hướng Đông” (Look East Policy) được sử dụng lần đầu tiên trong văn bản chính thức của nhà nước Ấn Độ vào năm 1996. Mặc dù chính sách này ra đời, tồn tại và phát triển nhưng phải tới báo cáo thường niên 2006-2007, Bộ Ngoại giao Ấn Độ mới xác nhận rằng, chính sách hướng Đông ra đời năm 1992. Cho đến nay, việc xác định thời điểm ra đời không phải là quan tâm hàng đầu của giới học giả nghiên cứu về chính sách hướng Đông. “Đầu những năm 1990” là cụm từ được sử dụng phổ biến để nói về sự ra đời của chính sách này. Bên cạnh thời điểm không cụ thể đó, nhiều học giả cũng đưa ra quan điểm của riêng họ về thời điểm ra đời của chính sách này và các năm 1991 và 1992 là những niên đại được nhất trí nhiều hơn cả. Khi đưa ra thời điểm 1991, các học giả thường gắn sự ra đời của chính sách hướng Đông với cuộc cải cách toàn diện nền kinh tế năm 1991 của chính phủ Ấn Độ. Thời điểm ra đời của chính sách này vào năm 1992 đã được một số học giả Ấn Độ khẳng định trong các nghiên cứu của họ trước khi có khẳng định chính thức của bộ Ngoại giao nước này. Trong các nghiên cứu thuộc công trình “Xây dựng một đối tác toàn cầu: Năm mươi năm quan hệ Ấn Độ - Nhật Bản”, các tác giả K. V. Kesavan và A. N. Ram nhất trí rằng chính sách hướng Đông của Ấn Độ ra đời năm 1992.

1.2. Phạm vi chính sách hướng Đông

Trong phát biểu về chính sách đối ngoại của Ấn Độ năm 1994 tại Xingapo, Thủ tướng P. V. Narasimha Rao đã gửi đi thông điệp rõ ràng rằng Ấn Độ đang hướng tới khu vực châu Á – Thái Bình Dương và Thủ tướng Xingapo Lý Quang Diệu đã giải thích, “qua thông điệp này, Thủ tướng Rao đã đưa Ấn Độ hướng Đông, hướng tới sự năng động của châu Á – Thái Bình Dương”. Tuy nhiên, một bộ phận trong giới học giả Ấn Độ vẫn cho rằng “chính sách hướng Đông của Ấn Độ chỉ là quan hệ của Ấn Độ với Đông Nam Á (hay ASEAN)”. Mặc dù vậy, quan điểm cho rằng phạm vi của chính sách hướng Đông là khu vực Đông Nam Á hay ASEAN là không nhiều. Các học giả chuyên nghiên cứu về quan hệ Ấn Độ - Đông Nam Á và Ấn Độ - Đông Á như Baladas Ghosal, Alka Acharya, Man Mohini Kaul, Amitabh Matoo, Swanran Sigh, G.V.C. Naidu đều khẳng định rằng phạm vi của chính sách hướng Đông hoặc là Đông và Đông Nam Á, hoặc là châu Á – Thái Bình Dương, hoặc là Đông Nam và châu Á – Thái Bình Dương.

Về phần mình, các nhà chính trị, các nhà hoạch định chính sách của Ấn Độ dù vẫn chưa thống nhất trong cách đề cập về phạm vi của Chính sách hướng Đông nhưng họ vẫn có điểm chung là coi phạm vi của chính sách này vượt qua khuôn khổ của khu vực Đông Nam Á. Năm 2003, trong bài phát biểu tại Diễn đàn Geneva, Thư ký Ngoại giao Ấn Độ Kanwal Sial đã nói rằng “chính sách hướng Đông của Ấn Độ bắt đầu từ Đông Bắc Á chứ không đơn thuân chỉ là khu vực ASEAN” .Cũng vào thời gian này, Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ Yashwant Sinha khẳng định “chính sách hướng Đông của Ấn Độ không chỉ hạn chế ở mười nước ASEAN mà đã mở rộng tới cả khu vực Đông Bắc Á – Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc”. Tuy nhiên, Đông Nam Á và Đông Bắc Á vẫn chưa phải là phạm vi cuối cùng của chính sách hướng Đông và một không gian rộng lớn hơn của chính sách này đã được Thư ký hỗn hợp của Bộ Ngoại giao Ấn Độ Pradeep Kumar Kapur khẳng định tại Hội thảo quốc tế nhân kỷ niệm 35 năm thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ giữa Việt Nam và Ấn Độ ở Hà Nội năm 2007: “Mục tiêu chính của chính sách hướng Đông khi mới hình thành đầu những năm 1990 là tăng cường quan hệ với ASEAN. Chính sách này dần được mở rộng ra các khu vực Viễn Đông (Far Eastern) và Thái Bình Dương, và tạo thuận lợi cho (Ấn Độ có) các mối liên kết gần gũi hơn với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ốtxtrâylia, Niu Dilân, Fiji, Papua Neư Guinea và các quốc đảo ở Thái Bình Dương”.

1.3. Các giai đoạn của chính sách hướng Đông

Có thể nói rằng, quan điểm chính thức của chính phủ Ấn Độ về phân chia các giai đoạn của chính sách hướng Đông được thể hiện trong các phát biểu của Ngoại trưởng Ấn Độ Jashwant Shinha năm 2003. Ngày 26/8/2003, trong bài phát biểu dưới tiêu đề “châu Á: Một thời kỳ thay đổi” tại Viện Nghiên cứu Quân sự và Chiến lược Xingapo, Ngoại trưởng Jashwant Sinha đã nói rằng, “với việc tổ chức Hội nghị cấp cao Ấn Độ - ASEAN lần thứ nhất tại Phnôm Pênh tháng 11 năm ngoái (2002), chúng tôi đã thực sự bước vào giai đoạn II của chính sách hướng Đông”. Đến cuối tháng 9/2003, Ngoại trưởng Sinha trong bài phát biểu tại Trường đại học Harward đã đề cập đến nội dung của từng giai đoạn trong chính sách hướng Đông như sau: “giai đoạn đầu tiên của chính sách hướng Đông tập trung vào các mối liên kết thương mại và đầu tư. Giai đoạn mới của chính sách này được đặc trưng bởi khái niệm mở rộng về hướng Đông, mở rộng từ Ôxtrâylia tới Đông Á với ASEAN là trọng tâm (core) của chính sách này”. Về cơ bản, giới truyền thông và học giả cũng nhất trí lấy năm 2002 làm điểm khởi đầu của giai đoạn II của chính sách hướng Đông của Ấn Độ.

Về khung khổ hợp tác, năm 2002 là mốc đánh dấu việc hoàn thành bước tiến quan trọng nhất của Ấn Độ trong hợp tác ASEAN, Hội nghị cấp cao ASEAN-Ấn Độ lần đầu tiên được tổ chức. Với sự kiện này, Ấn Độ là nước đầu tiên ngoài khu vực Đông Á (phương diện địa lý) đạt được cơ chế hợp tác cấp cao thường niên (annual summit) tương đương với ba đối tác khác của ASEAN là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản. Kể từ năm 2002, quan hệ giưa Ấn Độ và ASEAN được mở rộng, phát triển về chiều sâu và Ấn Độ hướng tới xây dựng cơ chế hợp tác với khu vực Đông Á, cụ thể:

(1) Tiến trình đàm phán về khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Ấn Độ chính thức được các nước thành viên ASEAN chấp thuận tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN chấp thuận tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN năm 2003 tại Bali, Inđônêxia;

(2) Thủ tướng Altai behari Vajpayee chính thức đề nghị xây dựng Cộng đồng kinh tế châu Á (Asian Economic Community) gồm mười nước thành viên ASEAN, ba đối tác Đông Nam Á và Ấn Độ năm 2003; và

(3) Quan hệ Ấn Độ và ASEAN đã đạt được bước tiến mới trên lĩnh vực an ninh khi Tuyên bố chung ASEAN - Ấn Độ về hợp tác chống chủ nghĩa khủng bố ra đời năm 2003

2. Các mục tiêu của chính sách hướng Đông

Chính sách hướng Đông được triển khai trong một quá trình, được bổ sung những yếu tố mới do nhu cầu chính bản thân Ấn Độ trước những thay đổi của bối cảnh trong nước, khu vực và quốc tế. Qua các phát biểu của các nhà lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách cụ thể mà nước này áp dụng cho khu vực, chúng ta có thể khẳng định rằng, chính sách hướng Đông bao gồm những mục tiêu cơ bản sau:

Thứ nhất, với việc triển khai chính sách hướng Đông, Ấn Độ mong muốn tăng cường các mối quan hệ kinh tế với các nước ASEAN nói chung, đồng thời xua tan mối nghi ngại của khu vực Đông Á về một Ấn Độ có chính sách đối ngoại đi ngược lại với quan điểm của các nước ASEAN thời kỳ chiến tranh Lạnh.

Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ Gujral khẳng định: “Chúng tôi coi đối tác đối thoại đầy đủ với ASEAN là minh chứng cho vận mệnh chính sách hướng Đông của mình”.

Thứ hai, Ấn Độ khởi động chính sách hướng Đông để phục vụ cuộc cải cách kinh tế toàn diện năm 1991. “Tư tưởng mới về FTA đã tạo ra một động lực mới cho Chính sách hướng Đông và đến lượt mình, chính sách hướng Đông có những tác động đến cải cách và tự do hoá của Ấn Độ” và “mục tiêu cải cách và tự do hoá kinh tế của chính sách hướng Đông giúp Ấn Độ giảm các hàng rào thương mại cũng như tự do hoá chế độ đầu tư”. Mục tiêu này được khẳng định rõ hơn trong phát biểu của Thủ tướng Manmohan Singh năm 2004: “các chính phủ kế tiếp nhau (của Ấn Độ) đã tự cam kết hạ mức thuế theo các mức thuế của ASEAN và chúng tôi sẽ từng bước hoàn thành điều này. Những nỗ lực gần đây của chúng tôi trong việc tao ra một Cộng đồng kinh tế châu Á cũng buộc chúng tôi phải theo định hướng này”.

Thứ ba,cuối những năm 1980 và tới trước khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á 1997-1998, Đông Á là khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao và ổn định bậc nhất thế giới. Những năm đầu thế kỷ XXI, các nền kinh tế Đông Á khôi phục được mức tăng trưởng cao và ổn định trở lại. “Ấn Độ tin rằng Đông Nam Á nằm giữ chiếc chìa khoá cho tăng trưởng kinh tế ổn định của Ấn Độ, và các khu vực khác đang có xu hướng tăng trưởng chậm lại cũng như gia tăng tính chất bảo hộ”. Đó là những lý do quan trọng khi nhiều phát biểu gần đây của các nhà lãnh đạo Ấn Độ đều cho rằng vận mệnh của quốc gia này gắn với khu vực Đông Á.

Thứ tư, thực hiện chính sách hướng Đông, Ấn Độ hướng tới mục tiêu xây dựng Cộng đồng kinh tế châu Á, một hình thức liên kết châu Á, một hình thức liên kết kinh tế nhằm đối trọng với khối EU và khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) nhưng quan trọng hơn là để Ấn Độ không bị đứng ngoài các khối kinh tế chủ đạo của thế giới và khẳng định vị thế cường quốc của mình ở khu vực châu Á. Năm 2003, phát biểu tại Bali (Inđônêxia), Thủ tướng Ấn Độ A.B. Vajpayee đã nói rõ kỳ vọng của ông về cộng đồng này như sau: “Một ccộng đồng kinh tế châu Á của 14 nước, bao gồm các nước ASEAN + 3 (Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc) + 1(Ấn Độ) sẽ khai thác có hiệu quả nhất sự đồng vận của chúng ta”. Sau Hội nghị cấp cao Đông Á lần thứ nhất vào tháng 12/2005, Ấn Độ đã mở rộng phạm vi sáng kiến Cộng đồng kinh tế châu Á khi Thủ tướng Manmohan Singh phát biểu, “mong muốn chủ quan trong việc xây dựng một Cộng đồng Đông Á gồm ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và cả Ốtxtrâylia cùng New Zealand là đương nhiên. Cũng giống như NAFTA và EU mở rộng, một FTA liên Á (pan-Asia) sẽ là một hiệp hội những quốc gia năng động, mở và đặc thù ở khu vực rộng lớn của chúng ta… Tôi tin chắc rằng đây là con đường duy nhất để hướng tới phía trước và Ấn Độ mong muốn được kết hợp với các nước khác cùng chí hướng để thực hiện điều này”.

Thứ năm, bảy bang vùng Đông Bắc của Ấn Độ là những bang kém phát triển về kinh tế-xã hội và bất ổn an ninh. Xác định một trong những điểm mạnh của khu vực là “gần kề với một trong những khu vực tăng trưởng nhanh nhất thế giới, là các nền kinh tế mới nổi Đông Nam Á”, cuộc họp lần thứ 52 của uỷ ban vùng Đông Bắc Ấn Độ (NEC-2/2006) đã nhấn mạnh việc tăng cường biên mậu, coi đây là nhiêm vụ, là một phần của chính sách hướng Đông, khu vực phải được hỗ trợ để có được lợi ích đầy đủ từ thương mại với các nước Đông Nam Á”. Mục tiêu quan trọng của chính sách hướng Đông đối với khu vực Đông Bắc được NEC tái khẳng định tại cuộc họp lần thứ 53: “chính sách hướng Đông có tiềm năng phá vỡ sự cô lập và mang thịnh vượng đến cho khu vực”.

Thứ sáu, hạn chế ảnh hưởng của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương được coi là một mục tiêu của chính sách hướng Đông. Kể từ cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, Trung Quốc đã có ý định mở rộng ảnh hưởng xuống khu vực Ấn Độ Dương, nơi Ấn Độ được coi là khu vực ảnh hưởng truyền thống của họ. Năm 1986, chỉ huy của Tàu khu trục số 132 được trang bị tên lửa điều khiển từ xa của Trung Quốc đã phát biểu tại cảng Chittagong (Bangladesh) rằng Ấn Độ Dương không duy nhất thuộc về Ấn Độ. Và, khi được hỏi về nhân tố Trung Quốc trong chính sách hướng Đông, nguyên Ngoại Ấn Độ Yashwant Shingha đã nói: “Không, đây là thương mại Ấn Độ và ASEAN. Nhưng thậm chí khi chúng tôi không cần nhắc nhân tố Trung Quốc thì các nước ASEAN cũng sẽ làm vậy”.

3. Các hướng triển khai chính sách hướng Đông

Năm 2003 tại Mátxcơva, Ngoại trưởng Ấn Độ Yahshwant Sinha phát biểu: “Chúng tôi đã nỗ lực tạo dựng các thoả thuận thương mại và đầu tư đặc biệt, bao gồm việc thông qua một Khu vực thương mại tự do Ấn Độ - ASEAN, một Hiệp định thương mại tự do (FTA) BIMST-EC (Hợp tác kinh tế Bangladesf, Ấn Độ, Myanmar, Sri Lanka, Thái Lan) cũng như các thoả thuận song phương như FTA Ấn Độ - Thái Lan, Thoả thuận hợp tác kinh tế toàn diện Ấn Độ - Xingapo, Hợp tác Mekong – sông Hằng (bao gồm Ấn Độ, Thái Lan, Myanmar, Việt Nam, Campuchia, và Lào). Đó là những khung khổ quan trọng của chính sách hướng Đông của Ấn Độ”. Từ phát biểu này, chúng ta có thể khẳng định rằng, Ấn Độ triển khai chính sách hướng Đông theo ba hướng chủ yếu sau:

3.1. ASEAN với tư cách là một cơ chế hợp tác khu vực

“Vào đầu những năm 1990, chính phủ Ấn Độ đã đưa ra một quyết định chiến lược nhằm làm sâu sắc thêm quan hệ với các nước Đông Nam Á. Nhờ vậy những hạt giống của Chính sách hướng Đông nổi tiếng đã nảy mầm”. Nói cách khác, “khi tiếp cận Đông Á, Ấn Độ trước hết chọn hướng tập trung vào ASEAN”. Về phần mình, “các thành viên ASEAN là những nước đầu tiên ủng hộ chính sách hướng Đông”. Nhìn nhận vai trò động lực (driving force) của ASEAN trong các cơ chế hợp tác khu vực như ASEAN+1, ASEAN+3 và Cấp cao Đông Á, Ấn Độ xác định rằng, họ chỉ có thể hiện thực hoá các mục tiêu của mình ở Châu Á – Thái Bình Dương thông qua củng cố và nâng cấp quan hệ với tổ chức khu vực này.

3.2. Hợp tác tiểu khu vực

Như đã nói ở trên, phát triển vùng Đông Bắc Ấn Độ và kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương là hai trong số những mục tiêu của chính sách hướng Đông. Tiếp cận theo hướng này, Ấn Độ đã chủ trương các liên kết tiểu khu vực với khu vực Đông Nam Á lục địa thông qua các cơ chế hợp tác như BIMSTEC và Hợp tác Mekong-sông Hằng. Với vùng Đông Bắc, những cơ chế hợp tác này mở ra cơ hội phá vỡ thế cô lập và hội nhập với các quốc gia xung quanh. Về mặt chiến lược, “BIMSTEC một phần được thiết kế để để làm đối trọng với sáng kiến hợp tác Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ và Myanmar. BIMSTEC chính là SAARC trừ Pakistan nhưng cộng thêm Thái Lan và Mianmar. Hợp tác Mekong-sông Hằng một phần được thiết kế để làm đối trọng với hợp tác Tiểu vùng Mekongmở rộng, một cơ chế hợp tác có mặt Trung Quốc. Với các thành viên là Ấn Độ, Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam và Thái Lan, Hợp tác Mekong – sông Hằng hội tụ đủ các thành viên của hợp tác Tiểu vùng sông Mekong mở rộng trừ Trung Quốc”.

3.3. Hiệp định thương mại tự do

Học giả Dong Zhang đánh giá: “các FTA với các nước Đông Nam Á sẽ mang lại cho Ấn Độ cơ hội lựa chọn mở trong trường hợp các cuộc đàm phán của WTO thất bại”. Tuy nhiên, các FTA thường chỉ đề cập chủ yếu đến thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ và đương nhiên, đầu tư không thuộc nội dung của các FTA.. Đó là lý do tại sao Ấn Độ theo đuổi Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Ấn Độ năm 2003 và Hiệp định hợp tác kinh tế toàn diện Ấn Độ - Xingapo năm 2005. Khi các cuộc đàm phán về FTA với ASEAN gặp khó khăn, Ấn Độ chuyển hướng sang các FTA song phương với các đối tác ở khu vực như Xingapo và Thái Lan. Đây được cho là cách thức dễ dàng hơn để Ấn Độ vẫn có thể duy trì và thúc đẩy các cuộc đàm phán về FTA với khu vực Đông Á.

Chính sách hướng Đông ra đời là kết quả của sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ nhằm thích nghi với những biến động của tình hình quốc tế, khu vực và trong nước. Hướng Đông không có nghĩa là Ấn Độ không quan tâm tới các khu vực khác. Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ I.K. Gujral trong bài phát biểu tại hội nghị sau hội nghị các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN năm 1996 đã giải thích rõ ràng “hướng Đông không phải là nỗ lực chúng tôi (Ấn Độ) tự tách mình khỏi tiểu khu vực Nam Á hay rời bỏ hướng Tây”./.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.
GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.