Một số kết quả điều tra, khảo sát hàm lượng Asen (Thạch tín) trong nguồn nước sinh hoạt ở Nghệ An
I.Đặt vấn đề
Nguy cơ ô nhiễm Asen đang là một mối đe doạ sức khoẻ toàn cầu vì nó có mặt trong nguồn nước dùng cho sinh hoạt, ăn uống và sản xuất. Trên thế giới có trên 70 quốc gia và 137 triệu người đang bị ảnh hưởng bởi chất Asen, điển hình là Bangladesh và 5 quốc gia Đông Nam Á: Indonesia, Myanmar, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam. Tại Việt Nam, việc nghiên cứu về Asen được thực hiện từ năm 1998 đã phát hiện Asen trong nguồn nước ngầm ở khu vực Hà Nội. Năm 1999, Unicef đã hỗ trợ cho việc điều tra sơ bộ xác định thành phần Asen trong nguồn nước ngầm tại một số khu vực của 7 tỉnh thuộc vùng châu thổ sông Hồng gồm Thanh Hóa, Phú Thọ, Quảng Ninh, Hà Nội, Hà Tây, Hải Phòng và Thái Bình. Kết quả điều tra cho thấy có 153/1.228 mẫu kiểm tra có hàm lượng Asen vượt tiêu chuẩn cho phép 0.05mg/l (chiếm 12,45%). Hiện nay, nhiều tỉnh khác có tỷ lệ ô nhiễm Asen ở mức cao như Hà Tây, Hà Nam, Hải Dương, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, An Giang, Long An, Thanh Hóa, Lâm Đồng…
Theo thống kê, cứ trong 10 người dùng nước cho ăn uống bị ô nhiễm Asen thường xuyên với nồng độ lớn hơn 0,05 miligram/lit (mg/l) thì có 1 người bị chết vì các bệnh ung thư về phổi, máu và ung thư da. Theo kết quả nghiên cứu của Bộ Y tế thì ở nước ta, số người có nguy cơ mắc bệnh do sử dụng nguồn nước chứa hàm lượng Asen cao hơn mức cho phép lên tới trên 17 triệu người, chiếm 21,5% dân số. Đáng báo động là chỉ trong vòng 2 năm nay, số người mắc bệnh do sử dụng nguồn nước nhiễm Asen tăng gấp đôi.
Người dân Nghệ An từ trước đến nay thường khai thác, sử dụng chủ yếu nguồn nước dưới đất (giếng làng, giếng nhà) phục vụ sinh hoạt, ăn uống… cho gia đình và cộng đồng. Ngoài ra, người dân còn dùng nguồn nước mặt lấy từ sông suối, hồ đập tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp và các ngành nghề khác… Những nguồn nước này hầu như chưa được các cơ quan chức năng nghiên cứu, kiểm tra, xem xét về hàm lượng Asen.
Thực hiện " Đề án giảm thiểu tác hại của Asen trong nguồn nước sinh hoạt tại Việt Nam" của Bộ Tài nguyên & Môi trường (Bộ TN&MT) được sự hỗ trợc của Cục quản lý Tài nguyên nước (Cục QLTNN - Bộ TN&MT) và sự hợp tác, giúp đỡ của các sở, ban, ngành và các địa phương trong tỉnh, Trung tâm Môi trường & Phát triển thuộc Liên hiệp các Hội KHKT Nghệ An tiến hành khảo sát, điều tra xác định hàm lượng Asen trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
II. Điều tra, khảo sát
- Công tác điều tra, khảo sát được tiến hành 2 bước:
+ Bước 1: Tiến hành điều tra, khảo sát tất cả các huyện, thành, thị trong tỉnh, ưu tiên những vùng tập trung đông dân cư, khu công nghiệp, nhà máy. Điều tra chủ yếu từ nguồn nước dưới đất (giếng đào, giếng khoan), một số nguồn nước mạch lộ (từ trong đất chảy ra) và nước mặt (sông suối). Mỗi xã đồng bằng điều tra 24 mẫu; mỗi xã trung du, miền núi điều tra 10 mẫu.
+ Bước 2: Trên cơ sở kết quả điều tra bước 1, mở rộng phạm vi điều tra tại các xã có hàm lượng Asen vượt quá 0,05mg/l. Mỗi xã đồng bằng điều tra 100 mẫu, mỗi xã trung du miền núi điều tra 50 mẫu.
- Phương pháp điều tra là phương pháp cùng tham gia, tiến hành phỏng vấn các chủ hộ, người quản lý, sử dụng nguồn nước và điền thông tin và các phiếu thiết kế sẵn.
- Phương pháp kiểm tra hàm lượng Asen tại thực địa bằng cách lấy mẫu và tiến hành phân tích hàm lượng Asen tại hiện trường bằng công cụ Asen Test Kit (Cục QLTNN - Bộ TN &MT). Một số mẫu được gửi phân tích trong phòng thí nghiệm.
- Xác định vị trí toạ độ điểm lấy mẫu bằng máy định vị toàn cầu GPS.
- Tổng hợp và xử lý dữ liệu trên phần mềm Exel. Kết quả kiểm tra phân tích tại hiện trường được phân thành 4 mức có chứa hàm lượng Asen khác nhau, bao gồm: Mức 1: Các mẫu có hàm lượng < 0,01 mg/l; Mức 2: Các mẫu có hàm lượng³0,01 đến < 0.025 mg/l; Mức 3: Các mẫu có hàm lượng³0,025 đến < 0,05 mg/l; Mức 4: Các mẫu có hàm lượng³0,05 mg/l.
III. Kết quả điều tra, khảo sát
1. Kết quả điều tra, khảo sát bước 1
Bước 1 tiến hành khảo sát, điều tra trên 19 huyện, thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò với tổng cộng 288/469 phường, xã (năm 2006) được điều tra (chiếm 61,4%). Trong đó, thành phố Vinh và thị xã Cửa Lò điều tra 100% số xã, phường; Hưng Nguyên có 16 xã, thị trấn; Nghi Lộc 17 xã, Nam Đàn 13 xã; Diễn Châu 20 xã; Quỳnh Lưu 27 xã; Đô Lương 25 xã; Yên Thành 27 xã; Thanh Chương 22 xã; Anh Sơn 13 xã; Tân Kỳ 13 xã; Nghĩa Đàn 20 xã; Quỳ Hợp 12 xã; Quỳ Châu 8 xã; Con Cuông 6 xã; Tương Dương 9 xã; Kỳ Sơn 8 xã và Quế Phong 7 xã.
Tổng số có 4.356 mẫu nước thô (mẫu chưa qua lọc) được kiểm tra tại thực địa. Trong đó, có 2.792 mẫu lấy từ giếng đào (chiếm 64,09%), 1.395 mẫu giếng khoan ( chiếm 32,02%), 169 mẫu lấy từ nước mặt và mạch lộ (chiếm 3,87%).
Kết quả điều tra cho thấy trong số 4.356 mẫu nước thô được kiểm tra thì có 147 mẫu (142 giếng khoan, 5 giếng đào) có hàm lượng Asen vượt quá 0,05 mg/l (chiếm 3,37% tổng số mẫu điều tra). Tuy nhiên, nếu theo Tiêu chuẩn của WHO thì con số này là 293 mẫu (chiếm 6,72% tổng số mẫu điều tra).
* Đối với giếng khoan
Kết quả kiểm tra 1.395 mẫu nước giếng khoan cho thấy:
- Số mẫu nước có hàm lượng Asen³0.05 mg/l: 142 mẫu (chiếm 10,3%). Trong đó, Hưng Nguyên có 92 mẫu, Nam Đàn có 19 mẫu, thành phố Vinh có 16 mẫu, Nghi Lộc có 7 mẫu, Thanh Chương có 3 mẫu, thị xã Cửa Lò có 2 mẫu, Yên Thành có 1 mẫu, Quỳnh Lưu có 1 mẫu, Đô Lương có 1 mẫu.
- Số mẫu nước có hàm lượng Asen từ³0.025 đến < 0.05 mg/l: 12 mẫu (chiếm 0,08%). Trong đó, Thành phố Vinh có 6 mãu, Hưng Nguyên có 3 mẫu, Nghi Lộc có 2 mẫu, Nam Đàn có 1 mẫu.
- Số mẫu nước có hàm lượng Asen từ³0,01 đến£0,025 mg/l: 94 mẫu (chiếm 6,74%). Trong đó, Hưng Nguyên có 39 mẫu, Nghi Lộc có 2 mẫu, Nam Đàn có 1 mẫu.
- Số mẫu nước có hàm lượng Asen < 0,01 mg/l: 1.147 mẫu (chiếm 82,22%). Trong đó chủ yếu tập trung ở các huyện Diễn Châu, Anh Sơn, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong, Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn.
* Đối với giếng đào
Kết quả kiểm tra 2.792 mẫu nước giếng đào cho thấy:
- Số mẫu nước có hàm lượng Asen³0.05 mg/l: 5 mẫu (chiếm 0,17%). Trong đó, thành phố Vinh 1 mẫu, Nam Đàn 1 mẫu, Thanh Chương 1 mẫu, Quỳnh Lưu 1 mẫu, thị xã Cửa Lò 1 mẫu.
- Số mẫu nước có hàm lượng Asen từ³0,025 đến <0,05 mg/l: 4 mẫu (chiếm 0,14%). Trong đó, thành phố Vinh 1 mẫu, Thanh Chương 2 mẫu, Anh Sơn 1 mẫu.
- Số mẫu nước có hàm lượng Asen từ³0,01 đến£0.025 mg/l: 36 mẫu (chiếm 1,29%). Trong đó, Hưng Nguyên 9 mẫu, Quỳnh Lưu 9 mẫu, Nghi Lộc 7 mẫu, Nam Đàn 5 mẫu, các huyện Yên Thành, Đô Lương và thành phố Vinh mỗi nơi có 2 mẫu.
- Số mẫu nước có hàm lượng Asen < 0,01 mg/l: 2.727 mẫu (chiếm 97,67%).
Như vậy số mẫu nước giếng đào được điều tra có tỷ lệ hàm lượng Asen thấp hơn nhiều so với giếng khoan.
* Đối với nước mặt và mạch lộ
169/169 mẫu nước mặt và mạch lộ được kiểm tra đều có hàm lượng Asen < 0,01 mg/l. Trong đó, huyện Hưng Nguyên 2 mẫu, Tương Dương 85 mẫu, Kỳ Sơn 80 mẫu, Nghĩa Đàn và Con Cuông mỗi huyện có 1 mẫu.
2. Kết quả điều tra khảo sát bước 2
Tiến hành khảo sát, điều tra tại 40 xã của 9 huyện có mẫu nước chứa hàm lượng Asen³0,05 mg/l đã được kiểm tra tại bước 1. Tổng số có 3.500 mẫu nước thô được kiểm tra, trong đó có 2.637 giếng khoan và 683 giếng đào. Kết quả kiểm tra, phân tích 3.500 mẫu nước cho thấy:
* Mẫu có hàm lượng Asen từ 0,05 mg/l trở lên
Trong số 3.500 mẫu nước được kiểm tra có 683 mẫu có hàm lượng Asen vượt mức cho phép³0,05 mg/l (chiếm 19,51% tổng số mẫu kiểm tra), cụ thể:
- Huyện Hưng Nguyên: Kiểm tra 1.050 mẫu nước (tại 11 xã) thì có 543 mẫu có hàm lượng Asen³0.05 mg/l (chiếm 51,71% số mẫu được kiểm tra). Trong đó, xã Hưng Long có 85/100 mẫu; xã Hưng Lợi có 80/100 mẫu; xã Hưng Tân có 79/100 mẫu; xã Hưng Xá có 68/100 mẫu; xã Hưng Thông có 61/100 mẫu; xã Hưng Lĩnh có 28/50 mẫu; xã Hưng Xuân có 52/100 mẫu; xã Hưng Đạo có 51/100 mẫu; xã Hưng Chím có 17/100 mẫu; thị trấn Hưng Nguyên có 14/100 mẫu, xã Hưng Mỹ có 8/100 mẫu.
- Thành phố Vinh: Kiểm tra 550 mẫu nước tại 7 xã (phường) thì có 68 mẫu có hàm lượng Asen³0.05 mg/l. Trong đó, phường Cửa Nam có 38/100 mẫu; phường Đông Vinh có 16/50 mẫu; xã Hưng Hoà có 6/100 mẫu; phường Trung Đô có 6/100 mẫu; xã Vĩnh Tân có 1/100 mẫu, phường Lê Mao có 1/100 mẫu.
- Huyện Thanh Chương: Kiểm tra 200 mẫu nước tại 3 xã thì có 32 mẫu có hàm lượng Asen³0.05 mg/l. Trong đó, xã Trung Văn có 30/50 mẫu; xã Thanh Phong có 2/100 mẫu.
- Thị xã Cửa Lò: kiểm tra 300 mẫu nước tại 3 phường, xã thì có 21 mẫu có hàm lượng Asen³0,05 mg/l. Trong đó, xã Nghi Hoà có 18/100 mẫu; phường Thu Thuỷ có 3/100 mẫu.
- Huyện Nam Đàn: Kiểm tra 550 mẫu nước tại 7 xã thì có 16 mẫu có hàm lượng Asen³0.05 mg/l. Trong đó, xã Nam Cát có 7/100 mẫu; xã Xuân Hòa có 2/100 mẫu; xã Nam Giang có 4/50 mẫu; xã Xuân Lâm có 1/100 mẫu; xã Kim Liên có 1/50 mẫu, xã Hùng Tiến có 1/100 mẫu.
- Huyện Nghi Lộc: Kiểm tra 550 mẫu nước tại 6 xã thì có 3 mẫu có hàm lượng Asen³0.05 mg/l. Trong đó, xã Nghi Xuân có 2/100 mẫu, xã Nghi Kim có 1/100 mẫu.
* Mẫu có hàm lượng Asen từ³0.025 đến < 0,05 mg/l
Trong 3.500 mẫu nước được kiểm tra thì có 86 mẫu có hàm lượng Asen từ³0,025 đến < 0,05 mg/l (chiếm 2,46%). Trong đó, huyện Hưng Nguyên có 27/1.050 mẫu; thành phố Vinh có 54/550 mẫu; thị xã Cửa Lò có 3/300 mẫu; huyện Thanh Chương có 11/250 mẫu; huyện Nghi Lộc có 1/550 mẫu.
* Mẫu có hàm lượng Asen từ³0,01 đến£0,025 mg/l
Trong số 3.500 mẫu nước được kiểm tra thì có 305 mẫu có hàm lượng Asen từ³0,01 đến < 0,025 mg/l (chiếm 8,71%). Trong đó, huyện Hưng Nguyên có 217/1050 mẫu; thành phố Vinh có 53/550 mẫu; huyện Thanh Chương có 18/250 mẫu; thị xã Cửa Lò có 9/300 mẫu; huyện Nam Đàn có 6/550 mẫu; huyện Nghi Lộc có 2 mẫu.
* Mẫu có hàm lượng Asen < 0,01 mg/l
Trong số 3.500 mẫu nước được kiểm tra thì có 2.426 mẫu có hàm lượng Asen < 0,01 mg/l (chiếm 69,31% tổng mẫu điều tra). Trong đó, huyện Đô Lương, Yên Thành, Quỳnh Lưu mỗi huyện điều tra một xã nhưng các mẫu đều có hàm lượng Asen < 0,01 mg/l; Nghi Lộc có 544 mẫu; Nam Đàn có 528 mẫu; thị xã Cửa Lò có 267 mẫu; Thanh Chương có 149 mẫu; thành phố Vinh có 375 mẫu; Hưng Nguyên có 263 mẫu.
IV. Kết luận và kiến nghị
1. Kết luận
* Bước 1 có tổng số 288/469 xã thuộc 19 huyện, thành, thị được điều tra, khảo sát
Kết quả cho thấy:
- Phát hiện 40 xã của 9 huyện gồm Hưng Nguyên, Nam Đàn, thành phố Vinh, Nghi Lộc, Thanh Chương, Cửa Lò, Đô Lương, Quỳnh Lưu, Yên Thành có mẫu nước phân tích với hàm lượng Asen vượt mức cho phép³0,05 mg/l
- 248 xã còn lại của 10 huyện Diễn Châu, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong, Anh Sơn, Tân Kỳ, Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn chưa phát hiện thấy bị nhiễm Asen có hàm lượng vượt mức cho phép.
- Có 4.356 mẫu nước thô được kiểm tra thì có 147 mẫu có hàm lượng Asen vượt mức cho phép³0,05 mg/l (chiếm 3,37% tổng số mẫu điều tra).
* Bước 2 tiến hành điều tra, khảo sát tại 40 xã của 9 huyện có mẫu nước chứa hàm lượng Asen vượt mức cho phép
kết quả cho thấy: Có 3.500 mẫu được kiểm tra thì có 638 mẫu có hàm lượng Asen vượt mức cho phép³0,05 mg/l (chiếm 19,51%). Trong đó:
- Huyện Hưng Nguyên là huyện có số mẫu bị nhiễm Asen vượt mức cho phép cao nhất với 543/1050 mẫu (chiếm 51,71% số mẫu kiểm tra). Kiểm tra 11 xã gồm Hưng Long, Hưng Lợi, Hưng Tân, Hưng Xá, Hưng Thông, Hưng Lĩnh, Hưng xuân, Hưng Đạo, Hưng Chính, Hưng Mỹ và thị trấn Hưng Nguyên đều có mẫu bị nhiễm Asen³0,05 mg/l.
- Thành phố Vinh có 68/550 mẫu có hàm lượng Asen³0,05 mg/l (chiếm 12,36% số mẫu kiểm tra). Kiểm tra 7 xã (phường) thì 6 xã (phường) gồm Cửa Nam, Đông Vinh, Hưng Hoà, Trung Đô; Vinh Tân, Lê Mao có mẫu bị nhiễm Asen³0,05 mg/l.
- Huyện Thanh Chương có 32/250 mẫu (chiếm 12,8%). Kiểm tra tại 3 xã thị thì có 2 xã bị nhiễm Asen là Thanh Văn và Thanh Phong.
- Thị xã Cửa Lò có 21/300 mẫu (chiếm 7%). Kiểm tra 3 xã (phường) thì có 2 xã bị nhiễm Asen là Nghi Hoà và Thu Thuỷ.
- Huyện Nam Đàn có 16/550 mẫu (chiếm 3% số mẫu kiểm tra). Kiểm tra 7 xã thì có 6 xã Nam Giang, Nam Cát, Xuân Hoà, Hùng Tiến, Xuân Lâm và Kim Liên bị nhiễm Asen vượt mức cho phép.
- Huyện Nghi Lộc có 3/550 mẫu (chiếm 0,54%). Kiểm tra 5 xã thì có 2 xã bị nhiễm Asen vượt mức cho phép là Nghi Xuân và Nghi Kim.
* Tỷ lệ giếng khoan có hàm lượng Asen vược mức cho phép có hơn giếng đào.
Bước 1: số giếng khoan có hàm lượng Asen vượt mức cho phép³0,05 mg/l chiếm tỷ lệ 10,3% và giếng đào chỉ chiếm gần 0,02%. Bước 2: tỷ lệ giếng khoan là 25,67% và giếng đào là 0,69%. Các nguồn nước mặt, nước mạch lộ kiểm tra chưa thấy bị nhiễm Asen.
* Mẫu nước kiểm tra thuộc các xã vùng đồng bằng có chứa hàm lượng Asen cao hơn các xã thuộc vùng trung du, miền núi
2. Kiến nghị
Để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do nguồn nước ngầm bị nhiễm Asen gây ra, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị sau:
- Thông báo, tuyên truyền cho nhân dân các xã có nguồn nước bị nhiễm Asen vượt mức cho phép³0,05 mg/l để nhân dân hạn chế khai thác, sử dụng nguồn nước này dùng cho ăn uống, sinh hoạt. Khuyến cáo nhân dân nên sử dụng nước giếng đào tốt hơn nước giếng khoan.
- Đề nghị Bộ TN&MT, UBND tỉnh Nghệ An hỗ trợ kinh phí để mở rộng phạm vi điều tra, khảo sát, đặc biệt là các xã liền kề với các xã có nguồn nước bị nhiễm Asen vượt mức cho phép chưa được kiểm tra.
- Nhà nước cần lập dự án hỗ trợ xây dựng các công trình nước sạch thay thế nguồn nước bị nhiễm Asen vượt mức giới hạn cho phép, nhất là những vùng chưa có hệ thống cấp nước tập trung thuộc các xã của huyện Hưng Nguyên, Thanh Chương, Nam Đàn, Nghi Lộc và một số phường xã của thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò.








