Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 24/10/2008 15:10 (GMT+7)

Một số giải pháp quản lý các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng

Giai đoạn 2008 - 2010

Tổng hợp dữ liệu đầy đủ về các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam ;

Bước đầu kiểm soát việc xâm nhập, vận chuyển, tiêu thụ sinh vật ngoại lai và các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng;

Rà soát hệ thống các văn bản pháp luật và chính sách, đồng thời biên soạn Nghị định và các văn bản hướng dẫn về lĩnh vực bảo vệ các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam;

Thiết lập 1 số khu bảo tồn để bảo vệ, đồng thời cho sinh sản, tạo giống ít nhất 20 loài động thực vật thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng để thả ra các thuỷ vực tự nhiên, trong đó có 3 loài rùa biển, 2 loài rong biển, 4 loài cá biển, 2 loài nhuyễn thể, 9 loài cá nước ngọt;

Nâng cao trình độ cho cán bộ các cấp trong công tác bảo vệ các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng.

Giai đoạn 2011 - 2015

Kiểm soát sự biến động và cập nhật thường xuyên thông tin về các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng và các loài ngoại lai;

Tiếp tục thiết lập 10 khu bảo vệ các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở các cấp độ khác nhau;

Thuần hoá và cho sinh sản nhân tạo, lưu giữ thêm 18 loài, nâng tổng số 50% (khoảng 38 loài) loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng từ cấp độ nguy cấp (EN) trở lên;

Nâng cao nhận thức cộng đồng trong việc bảo vệ các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng; Đưa nội dung bảo vệ các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng vào các cấp học phổ thông, các trường đại học, cao đẳng chuyên nghành và khoa sinh các trường đại học, cao đẳng, trung học.

Tiếp tục sửa chữa, bổ sung hệ thống các văn bản pháp luật về bảo vệ các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng;

Giai đoạn 2016 - 2020

Chặn đứng nguy cơ tuyệt chủng của một số loài đặc biệt nguy cấp như cá Chép gốc (Procypris merus), cá Lợ thân thấp (Cyprinus multitaeniata), Bò biển (Dugong dugon), đồng thời tiếp tục thuần hoá và cho sinh sản nhân tạo, lưu giữ bổ sung thêm 50% (khoảng 38 loài) loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng từ cấp độ nguy cấp (EN) trở lên;

Hoàn thiện hệ thống các khu bảo vệ các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng trên cả nước;

Hoàn thiện quy chế chính sách về bảo vệ các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam ;

Thực hiện xã hội hoá công tác bảo vệ và phát triển các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng;

- Thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết;

- Đề xuất hình thức bảo vệ, bảo tồn các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng (xem bảng Hình 2).

Xây dựng một hành lang pháp lý để thiết lập khu bảo vệ các loài thuỷ sinh quý hiếm phù hợp phát triển bền vững, quy định quản lý nguồn gen, những loài cần ưu tiên cho sinh sản nhân tạo để thảvào các thuỷ vực tự nhiên.

Sửa đổi và hoàn thiện chính sách giao, cho thuê diện tích thuỷ vực tự nhiên để bảo vệ, khai thác nguồn lợi thuỷ sản hợp lý nhằm tạo động lực để khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia bảo vệ, phát triển, kinh doanh nguồn lợi thuỷ sản và đảm bảo lợi ích cho các đối tượng nhận khoán, thuê diện tích thuỷ lực.

Tất cả các loài có hình thức bảo vệ ex-situ đều có nghiên cứu sinh sản nhân tạo trong thời gian tới. Có 1 số loài được đề xuất cả 2 hình thức bảo tồn.

Các giải pháp bảo vệ các loài thuỷ sinh qúy hiếm trong thời gian tới

Giải pháp về thể chế chính sách

Xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách riêng cho công tác bảo tồn các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, bảo vệ ex - situ và in- situ.

Hoàn thiện quy chế quản lý khu bảo tồn thuỷ sản nội địa, khu bảo tồn biển và hưởng lợi đa thành phần. Thử nghiệm và xây dựng cơ sở pháp lý để giao, cho thuê khu vực quy hoạch bảo tồn thuỷ sản nội địa, bảo tồn biển cho các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, đặc biệt trong các hoạt động du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng;

Đẩy mạnh rà soát, xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp quy về quản lý, bảo vệ, phát triển và khai thác, tái tạo giống loài thuỷ sinh quý hiếm, đặc hữu có nguy cơ tuyệt chủng. Các phong tục và luật tục tốt của các địa phương cần được xem xét để xây dựng các quy ước bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản;

Tăng cường phân cấp quản lý nhà nước về bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, phục hồi giống loài thuỷ sinh quý hiếm, bảo vệ vùng cấm khai thác, nghề cấm khai thác, giống loài cấm khai thác cho chính quyền các cấp huyện và xã. Quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của chủ quản lý bãi đẻ, bãi giống, chủ quản lý giống loài quý hiếm để cho sinh sản nhân tạo… Chính quyền các cấp, các cơ quan thừa hành pháp luật và lực lượng bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản ở địa phương.

Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật để nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, mỗi chủ quản lý bãi giống, bãi đẻ, khu bảo tồn thủy sản nội địa, bảo tồn biển, chủ quản lý giống loài quý hiếm phục vụ sinh sản nhân tạo, mỗi người dân và toàn xã hội trong việc bảo vệ, phát triển và khai thác hợp lý giống loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng đi đôi với tăng cường quản lý nhà nước, thể chế và pháp luật.

Giải pháp về khoa học công nghệ

Triển khai những nghiên cứu về các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng một cách đầy đủ, toàn diện để có cơ sở đề xuất được loại hình bảo vệ thích hợp;

Điều tra cập nhật thông tin về các loài thuỷ sinh quý hiếm để phân loại các cấp độ nguy cấp của chúng hàng năm đáp ứng yêu cầu của công tác khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản.

Nghiên cứu biến động của các hệ sinh thái tác động tới nguồn lợi thuỷ sản và sự gia tăng của các loài thuỷ sinh bị đe doạ tuyệt chủng.

Nghiên cứu sinh sản nhân tạo các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng để thả vào các vực nước tự nhiên phục hồi quần thể ở tự nhiên.

Khuyến khích thành lập các trung tâm chuyển giao công nghệ, trung tâm tư vấn khoa học công nghệ về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản.

Đào tạo cán bộ khoa học và phổ biến kỹ thuật cho người dân về công việc bảo tồn các loài thủy sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng;

Nghiên cứu xây dựng các mô hình bảo vệ các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng và phát triển kinh tế-xã hội ở cộng đồng.

Các hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ về lựa chọn giống loài quý hiếm để ưu tiên sinh sản nhân tạo, lưu giữ nguồn gen, tiêu chí phân hạng khu bảo tồn loài trong hệ thống các khu bảo tồn thuỷ sản nội địa và khu bảo tồn biển.

Rà soát, xây dựng và hoàn thiện các quy trình, quy phạm kỹ thuật về sinh sản nhân tạo các loài thuỷ sinh quý hiếm, quy định về kích thước tối thiểu được phép khai thác, cơ chế giám sát khu vực cấm, khu vực cấm có thời hạn, các hoạt động sản xuất, kinh doanh tiêu thụ giống loài thuỷ sinh quý hiếm.

Giải pháp tăng cường cơ sở vật chất-kỹ thuật

Trang bị cho các cơ quan quản lý chuyên ngành từ trung ương đến địa phương phương tiện tuần tra: tàu xuồng, phương tiện thông tin hiện đại…

Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các cơ sở được quy hoạch để bảo vệ ex-situ các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng.

Tạo dựng cơ sở vật chất, thiết bị hiện đại đối với các cơ sở có chức năng quản lý nguồn gen, nghiên cứu sinh sản nhân tạo các loài thuỷ sinh đặc hữu, quý hiếm.

Những khu bảo tồn thuỷ sản nội địa, bảo tồn biển cũng cần được đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại phục vụ công tác bảo vệ.

Giải pháp về đào tạo, giáo dục

Xây dựng và thực hiện chiến lược đào tạo và nâng cao năng lực cho cán bộ bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản các cấp, đặc biệt là ở cấp xã để đáp ứng yêu cầu về đổi mới của ngành và hội nhập quốc tế;

Nâng cao năng lực cho các cán bộ quản lý, các doanh nghiệp, cộng đồng và hộ gia đình tham gia bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản thông qua đào tạo tại chỗ, ngắn hạn; từng bước nâng cao năng lực tự xây dựng, thực hiện giám sát kế hoạch bảo vệ và tái tạo những giống loài quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng.

Xây dựng Dự án đưa công nghệ giáo dục về bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản trong các cấp học với giáo trình, nội dung, phương pháp giảng dạy và cơ chế quản lý phù hợp để nâng cao chất lượng đào tạo.

Khuyến khích các tổ chức đào tạo trong nước, các tổ chức phi Chính phủ và dự án quốc tế tham gia hỗ trợ các hoạt động đào tạo cho người quản lý nguồn lợi, người làm công tác tái tạo nguồn lợi, người trực tiếp quản lý các khu bảo tồn thuỷ sản nội địa, bảo tồn biển… ưu tiên các hộ nghèo và phụ nữ;

Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cộng đồng, cụ thể:

- Cần biên soạn các tài liệu, phim ảnh… phát hành đến mỗi người dân giúp họ thấy được vai trò và trách nhiệm trong việc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản là các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng; Cũng như tổ chức việc tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức cộng đồng trên các phương tiện thông tin đại chúng;

- Chú trọng đào tạo cán bộ kiểm ngư, cán bộ các khu bảo tồn, cán bộ bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản… thành các tuyên truyền viên làm nhiệm vụ này.

Giải pháp về hợp tác quốc tế

Tăng cường hợp tác quốc tế đặc biệt với các nước láng giềng (Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Campuchia);

Tìm kiếm và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn và nguồn lực của các tổ chức quốc tế về đào tạo cán bộ, hợp tác nghiên cứu, về tài chính, vật tư trang thiết bị…

Tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế về lĩnh vực khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, giám sát buôn bán động vật hoang dã quý hiếm, quản lý các loài di cư, quản lý sản phẩm có xuất xứ từ biển khi Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO) thông qua việc tham gia tích cực và hợp tác chặt chẽ với các tổ chức chống buôn bán động vật hoang dã quý hiếm quốc tế (CITES), với khu vực và song phương;

Chủ động hợp tác tích cực với các quốc gia, các viện, trường tiên tiến trong khu vực và trên thế giới trong lĩnh vực nghiên cứu, giáo dục, đào tạo để nhanh chóng tiếp cận các chuẩn mực khoa học và công nghệ nuôi dưỡng, tái tạo, khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, phát triển nguồn nhân lực và nâng cấp trang thiết bị cho ngành;

Tiếp tục thực hiện các thoả thuận đa phương về môi trường, các cam kết quốc tế liên quan đến khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản mà Việt Nam tham gia như Công ước về buôn bán quốc tế động vật hoang dã (CITES), Công ước về đa dạng sinh học (UNCBD), để nâng cao vị thế của Việt Nam trên thế giới và trong khu vực; tranh thủ tìm kiếm các nguồn vốn hỗ trợ mới như Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF), Cơ chế phát triển sạch (CDM)…

Giải pháp về vốn

Hiện nay có khoảng 203 loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở cấp độ khác nhau, trong đó có 76 giống loài nguy cấp từ độ EN trở lên, có 114 giống loại bị cảnh báo sẽ bị nguy cơ tuyệt chủng. Những loài có cấp độ nguy cấp từ EN trở lên thì vấn đề cấp thiết là phải có những biện phải đồng bộ, hữu hiệu để trong thời gian ngắn phải chặn đứng sự tuyệt chủng, tiến tới khôi phục lại quần đàn để góp phần phát triển nghề cá. Những nội ung này đòi hỏi nguồn ngân sách nhà nước đầu tư.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Vĩnh Long: Tôn vinh 88 trí thức tiêu biểu năm 2025
Sáng ngày 13/5, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã long trọng tổ chức Hội thảo khoa học “Chuyển đổi số và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW” gắn với lễ Vinh danh trí thức tiêu biểu năm 2025. Đây là hoạt động ý nghĩa nhằm chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18/5.
Đắk Lắk: Hệ thống quản lý thư viện - văn thư tích hợp trí tuệ nhân tạo SmartLibDoc.AI
Đây là giải pháp đoạt giải Nhì Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (khu vực phía Tây) giai đoạn 2024-2025. Giải pháp khắc phục tình trạng dữ liệu phân tán, xây dựng một cơ sở dữ liệu tập trung, thống nhất, tránh nhập liệu trùng lặp, dễ dàng tổng hợp báo cáo liên ngành; Giải quyết bất cập trong mượn - trả thủ công, thay bằng quản lý tự động, có nhắc hạn trả, có thống kê chính xác…
Sơn La: Lễ Phát động trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” và kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Ngày 12/5, tại Xã Ngọc Chiến, tỉnh Sơn La, Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật tỉnh Sơn La, Quỹ Bảo vệ và Phát triển Rừng, Đảng uỷ, HĐND, UBND xã Ngọc Chiến phối hợp tổ chức Lễ Phát động trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” nhân kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam (18/5) và Ngày sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5).
Tuyên Quang: Hội thảo Bảo tồn, phát huy giá trị quần thể di sản Chè Shan tuyết
Chiều 12/5, tại khách sạn Mường Thanh, tỉnh Tuyên Quang, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hội thảo khoa học: “Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị quần thể di sản Chè Shan tuyết cổ thụ gắn với cải thiện, sinh kế cộng đồng địa phương tỉnh Tuyên Quang”.
Hải Phòng: Hội nghị thông tin chuyên đề về tình hình đối ngoại của Việt Nam
Sáng 09/5, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố đã tổ chức Hội nghị thông tin chuyên đề “Một số tình hình liên quan tới đối ngoại trong thời gian qua”, thu hút sự quan tâm tham dự của đông đảo lãnh đạo, hội viên các Hội thành viên, Trung tâm, Câu lạc bộ, Viện trực thuộc và các tổ chức thành viên Liên hiệp hội.