Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 31/08/2010 18:48 (GMT+7)

Một số giải pháp góp phần bảo vệ sức khoẻ và tính mạng cho người lao động làm việc trên các công trường xây dựng

I.Đặt vấn đề:

Trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế, hàng loạt các khu công nghiệp, cơ sở sản xuất, khu du lịch, các cụm dân cư… đang được đầu tư xây dựng trên mọi miền của đất nước ta.

Xây dựng công trình đang là một trong những lĩnh vực thu hút nhiều lao động, góp phần giải quyết việc làm và đời sống cho hàng vạn hộ gia đình. Tuy nhiên, một tồn tại thực tế dễ nhận thấy đó là điều kiện làm việc của người lao động trên các công trường xây dựng trong nhiều năm qua vẫn chưa có những cải thiện rõ nét, cuộc sống và sức khỏe của người lao động sau một thời gian dài gắn bó với các công trình xây dựng vẫn còn gặp nhiều khó khăn.

Qua số liệu thống kê tai nạn lao động trong những năm qua, có thể đánh giá được mức độ nguy hiểm đối với người lao động (NLĐ) trong ngành xây dựng, đó là tình hình tai nạn lao động, tỷ lệ lao động trong ngành xây dựng vẫn đang chiếm tỷ lệ cao hơn so với các ngành nghề khác của xã hội. Đặc biệt sau khi tai nạn xảy ra, khó khăn mang lại đối với cuộc sống của người bị tai nạn và gia đình họ chưa được các cơ quan chức năng đánh giá, thống kê và phản ánh đầy đủ. Hoặc như việc suy giảm sức khỏe của người lao động sau một thời gian tham gia thi công xây dựng, do không đủ sức khỏe để gắn bó cùng các công trình xây dựng, người lao động phải tự tìm một việc khác, phù hợp hơn với sức khỏe của mình, cũng chưa được phản ánh. Rất hiếm những lao động gắn bó cả cuộc đời mình với nghề xây dựng cho đến khi đủ tuổi nghỉ hưu. Vì vậy, bảo vệ sức khỏe cho người lao động trong ngành xây dựng là một yêu cầu thiết thực, mang một ý nghĩa xã hội vô cùng sâu sắc.

Cải thiện điều kiện làm việc, hạn chế tai nạn lao động và góp phần bảo vệ sức khỏe cho người lao động trong lĩnh vực xây dựng đang là mối quan tâm chung của toàn xã hội. Trong bài báo này tác giả đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần cải thiện điều kiện làm việc, sức khỏe của người lao động trên các công trường xây dựng.

II. Điều kiện làm việc của NLĐ trên các công trình xây dựng

2.1. Người lao động trên các công trường xây dựng

Trong những năm gần đây lực lượng lao động tại các công trình xây dựng đã có những biến động mạnh cả về số lượng và chất lượng, đó là:

* Sự gia tăng về số lượng người lao động: Số lượng các công trình xây dựng tăng nhanh, điều kiện tuyển dụng lao động đơn giản, người lao động không phải qua thời gian thử việc,… chính là những yếu tố thu hút người lao động đến với các công trình.

* Số lượng lao động chưa qua đào tạo vẫn chiếm tỷ lệ cao: Qua khảo sát tại một số công trình xây dựng tại Đà Nẵng, Quảng Nam đã cho thấy lực lượng cán bộ kỹ thuật, lao động đã qua đào tạo chỉ chiếm đưa đến 20% tổng số lao động tham gia trên công trường. Hơn 80% lao động còn lại được tuyển dụng từ những người lao động tự do, có thể đã biết nghề hoặc chưa có nghề.

* Một xu hướng mới xuất hiện trong thời gian gần đây, đó là một bộ phận người lao động không gắn bó thường xuyên với các đơn vị thi công, thường xuyên thay đổi nơi làm việc do một số nguyên nhân: Do cuộc sống gia đình, do nơi làm việc cũ có thu nhập thấp hơn nơi mới, do nơi mới có điều kiện làm việc tốt hơn. Có thể xem đây là một trong những đặc trưng của quá trình hội nhập cùng nền kinh tế đất nước.

* Sau một thời gian làm việc tại các công trình được tổ chức quản lý tốt, một bộ phận người lao động đã nâng cao tính chuyên nghiệp và ý thức kỷ luật trong công việc.

* Một tồn tại không nhỏ đã ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của người lao động cũng như gây khó khăn cho cơ quan chức năng, đó là việc tổ chức ký kết hợp đồng lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động vẫn còn thiếu sót. Khảo sát thực tế cho thấy, chỉ tối đa 25% người lao động trên các công trình xây dựng là có ký kết hợp đồng lao động.

          Bảng 1. Tình hình thực hiện công tác báo cáo tai nạn lao động của các cơ sở

Thời gian

Tỷ lệ % cơ sở có báo cáo TNLĐ

2007

4,5

2008

6,34

Bảng 2: Tỷ lệ số vụ TNLĐ và số người chết do TNLĐ trong ngành xây dựng với số liệu thống kê toàn quốc

Thời gian

Tỷ lệ % về số vụ TNLĐ

Tỷ lệ % số người chết do TNLĐ

2005

37,55%

36,26%

2006

34,43%

32,45%

2007

27,86%

44,37%

2008

29,54%

29,72%

2.2. Công tác bảo đảm an toàn, sức khỏe lao động

Hiện nay, tại nhiều công trình xây dựng, chủ đầu tư khoán gọn công việc cho các chủ thầu, các đội thi công, không quan tâm đến việc thực hiện các chế độ chính sách cho người lao động. Việc tổ chức khám sức khỏe, tuyên truyền huấn luyện về an toàn vệ sinh lao động cho người lao động hầu như không được thực hiện. Hồ sơ, sổ sách theo dõi về công tác bảo hộ lao động trên các công trình được thực hiện không đảm bảo. Bên cạnh đó, việc thiếu kiểm tra giám sát của cơ quan chức năng, đặc biệt là lực lượng thanh tra lao động địa phương, dẫn đến nhiều chủ đầu tư vẫn còn xem nhẹ công tác bảo hộ lao động.

2.2.1. Tình hình tai nạn lao động

Qua số liệu thống kê hàng năm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về tình hình tai nạn lao động cho thấy, trong 5 năm gần đây, mỗi nămtrung bình xảy ra khoảng 6.000 vụ tai nạn lao động, với hơn 6.000 người chết và bị thương.

Tuy nhiên, chắc chắn đây chưa phải là con số chính xác, vì còn nhiều cơ sở khi tai nạn lao động xảy ra đã tự thỏa thuận đền bù cho gia đình người bị tai nạn, không báo cáo với cơ quan chức năng, hoặc nhiều cơ sở không tham gia báo cáo định kỳ tình hình tai nạn lao động. Thực trạng này được phản ánh ở Bảng 1.

Về tình hình tai nạn lao động trong ngành xây dựng (công nghiệp, dân dụng và giao thông) và tỷ lệ người chết do tai nạn lao động của ngành trong 04 năm qua được thể hiện ở Bảng 2.

2.2.2. Những yếu tố nguy hiểm, có hại

Trong những yếu tố gây tai nạn thì điện và ngã cao là những yếu tố nguy hiểm luôn chiếm vị trí hàng đầu trong các yếu tố gây tai nạn, và đây cũng là những yếu tố nguy hiểm thường xuyên tồn tại trên các công trình xây dựng nhưng người sử dụng lao động cũng như người lao động vẫn còn chủ quan và không thường xuyên thực hiện các biện pháp phòng ngừa.

Yếu tố nguy hiểm về điện:

Tại các công trình xây dựng, việc sử dụng các thiết bị điện rất phổ biến, từ các thiết bị cầm tay đến các thiết bị nâng chuyển, phục vụ thi công… Tuy nhiên, việc tuân thủ các yêu cầu đảm bảo an toàn về điện hầu như chưa được quan tâm đúng mức. Có thể nhận thấy một số tồn tại là:

- Hệ thống điện trên các công trường bố trí tùy tiện: Các dây dẫn bố trí chằng chịt, không đảm bảo an toàn (kéo trên sàn hoặc các cây chống tạm…).

- Các thiết bị sử dụng điện khi đấu nối vào các tủ điện, cầu dao tổng không có sự kiểm tra, giám sát.

- Các thiết bị điện cầm tay được sử dụng thường xuyên: Máy khoan, máy cắt, máy đầm rung… không được đo kiểm tra cách điện. Người lao động chỉ quan tâm đến tính năng sử dụng của thiết bị, không biết được yêu cầu an toàn đối với thiết bị. Trong qua trình sử dụng nếu có hư hỏng, người lao động thường tự ý sửa chữa. Đặc biệt, việc đưa các thiết bị này vào sử dụng không được kiểm tra giám sát chặt chẽ của đơn vị thi công.

- Một số công trình thi công gần các đường dây cao áp nhưng thiếu biện pháp an toàn. Người lao động thiếu hiểu biết về an toàn điện, nên khi vận chuyển thiết bị, vật tư thi công, đã vi phạm khoảng cách an toàn về điện, nên đã xảy ra nhiều trường hợp phóng điện gây tai nạn nghiêm trong.

Yếu tố ngã cao trong xây dựng:

Trên các công trình xây dựng hiện nay, việc che chắn bên ngoài hoặc giữa các tầng thường không được thực hiện, hoặc thực hiện mang tính đối phó không đảm bảo khả năng ngăn ngừa tai nạn khi xảy ra sự cố.

Trong năm 2008, tai nạn do ngã cao chiếm 17,61% tổng số vụ và 19,81% tổng số người chết (cao hơn năm 2007 với tỷ lệ tương ứng 16,4% tổng số vụ và 15,47% tổng số người chết). Đây thực sự là vấn đề cần phải quan tâm. Thực tế tai nạn do ngã cao trong xây dựng thường tập trung vào một trường hợp sau:

- Ngã cao do vấp ngã khi di chuyển trên các tầng cao.

- Ngã cao do di chuyển giữa các tầng không có cầu thang mà đu bám thông qua các khung giàn giáo hoặc thanh sắt chờ…

- Ngã cao do di chuyển trên các dầm, đà… trên các sàn cao.

- Ngã cao do làm việc trong những nơi thiếu ánh sáng.

Mặt khác, một thực tế dễ nhận thấy, đó là người lao động trên các công trình hiện nay rất ít sử dụng dây an toàn khi làm việc trên cao, nên khi tai nạn ngã cao xảy ra thường dẫn đến chết người.

2.2.3. Tổ chức thực hiện công tác an toàn vệ sinh lao động

Theo đánh giá vào cuối năm 2007 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, có hơn 70% người sử dụng lao động và 50% người lao động chưa qua huấn luyện về an toàn vệ sinh lao động theo quy định. Do vậy, việc tổ chức thực hiện công tác đảm bảo an toàn vệ sinh lao động chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót.

Thực tế tại các công trình xây dựng hiện nay, công tác đảm bảo an toàn vệ sinh lao động chỉ được tổ chức thực hiện một cách hình thức. Các khẩu hiệu "An toàn là trên hết" hoặc "An toàn cho sản xuất, sản xuất phải an toàn" được treo khắp nơi, nhưng làm thế nào để đảm bảo an toàn thì vẫn còn nhiều tồn tại chưa được giải quyết.

Tại nhiều công trình xây dựng hiện nay đều có phương án đảm bảo an toàn khi thi công, nhưng khi triển khai thực hiện đều chưa đảm bảo, do đa số chỉ quan tâm đến tiến độ, chất lượng công trình; đội ngũ cán bộ giám sát công tác an toàn vệ sinh lao động chỉ kiêm nhiệm và không duy trì công tác kiểm tra thường xuyên. Đặc biệt là việc chấn chỉnh những sai phạm, chủ quan của người lao động trong quá trình làm việc chưa được quan tâm thực hiện thường xuyên.

Nhiều máy móc, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động như cần trục tháp, vận thăng, tời điện… không được kiểm định, đăng ký với cơ quan chức năng, mà tự ý lắp dựng và đưa vào sử dụng, và nghiêm trọng hơn là tiếp tục sai phạm trong quá trình vận hành (phân công người vận hành không đảm bảo yêu cầu, thiếu kiểm tra, giám sát…) nên đã xảy ra nhiều tai nạn nghiêm trọng.

Trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động vãn còn mang tính đối phó. Nhiều công trình khi khởi công đều có trang bị cho người lao động có trang bị cho người lao động áo quần, mũ nhựa cứng, giày vải, găng tay…, nhưng hầu như đó cũng là lần trang bị duy nhất. Phương tiện, thiết bị an toàn khi làm việc trên cao không đáp ứng với yêu cầu.

Về phía người lao động: Ý thức chấp hành các nội quy, quy định, các biện pháp đảm bảo an toàn trong quá trình làm việc cũng là một trong những vấn đề cần phải xem xét. Trong năm 2008, nguyên nhân xảy ra tai nạn lao động do người lao động chiếm tỷ lệ 34,93% (trong đó người lao động vi phạm quy trình quy phạm an toàn lao động chiếm 30,38% tổng số vụ). Trên thực tế, có thể do người lao động chưa nhận thức được những nguy hiểm rủi ro có thể phát sinh trong quá trình làm việc, chưa được phổ biến đầy đủ quy trình quy phạm an toàn lao động hoặc chủ quan nên đã vi phạm nội quy, quy trình.

III. Một số giải pháp góp phần đảm bảo an toàn sức khỏe cho người lao động

Trong thời gian qua, hàng loạt các văn bản pháp luật hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác an toàn vệ sinh lao động đã được ban hành, nhưng thực tế việc triển khai thực hiện ở các cơ sở vẫn còn nhiều hạn chế.

Ngày 18 tháng 10 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 233/2006/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Quốc gia về Bảo hộ lao động, An toàn lao động, Vệ sinh lao động đến năm 2010, với mục tiêu tổng quát là "Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, giảm ô nhiễm môi trường lao động; ngăn chặn tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe người lao động; nâng cao nhận thức và sự tuân thủ pháp luật về bảo hộ lao động, tài sản của Nhà nước, của công dân, góp phần vào sự phát triển bền vững của Quốc gia" nhưng hiện tại nhiều địa phương vẫn còn chậm trễ trong việc xây dựng kế hoạch triển khai.

Đảm bảo an toàn sức khỏe cho người lao động là một vấn đề phải được quan tâm, thực hiện thường xuyên không chỉ của các cơ quan chức năng, của người sử dụng lao động mà còn là sự tham gia tích cực của người lao động.

Nhân dịp này, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp thiết thực hy vọng có thể góp phần đảm bảo được an toàn vệ sinh lao động cho người lao động trên các công trình xây dựng.

3.1. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát

- Đối với cơ quan chức năng: Một thực tế không thể phủ nhận, đó là lực lượng cán bộ thanh tra của chúng ta hiện nay chưa đảm bảo cả về số lượng và chất lượng. Do vậy, bên cạnh việc kiện toàn lực lượng thanh tra, chúng ta phải tăng cường công tác kiểm tra, xử phạt theo Nghị định 113/2004/NĐ-CP ngày 16/4/2004 của Chính phủ; ngoài việc xử phạt bằng tiền thì cơ sở bị xử phạt phải bị đưa lên các phương tiện thông tin đại chúng theo đúng điều 32 của Nghị định. Có như vậy mới nâng cao hơn nữa hiệu quả của việc xử phạt và tạo ra áp lực để cơ sở phải nhanh chóng cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động.

- Vai trò của công đoàn: Công đoàn cần phải tích cực, năng động nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động trên các công trình xây dựng thông qua các hoạt động phối hợp kiểm tra, giám sát thường xuyên. Một thiếu sót phổ biến trong thời gian qua đó là việc khắc phục những sai phạm đã được phát hiện trong những đợt kiểm tra trước của các cơ sở, do vậy, hiệu quả của công tác kiểm tra chưa đạt được như mong muốn. Thực tế hiện nay yêu cầu công đoàn cần phải có hình thức tổ chức và hoạt động thiết thực, gần gũi với người lao động trên các công trình xây dựng, phải hỗ trợ và tư vấn kịp thời cho người lao động trong việc thực hiện các biện páp đảm bảo an toàn. Làm thế nào để giải quyết hài hòa những mâu thuẫn phát sinh của người lao đọng trên các công trình có nhiều đơn vị thi công, nhiều đội thầu cùng làm việc? Chúng ta cần phải bồi dưỡng và tăng cường năng lực cho các cán bộ chuyên trách của công đoàn, đặc biệt công đoàn quận, huyện và khu công nghiệp thì mới có thể chủ động tham gia đấu tranh cùng người sử dụng lao động để cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động.

- Tổ chức tư vấn giám đốc độc lập: Trên một công trình hiện nay thường có nhiều đơn vị cùng thi công, do vậy nếu thiếu sự phối hợp tích cực giữa chủ đầu tư cùng các đơn vị thi công trong công tác kiểm tra, giám sát thì chắc chắn sẽ không đảm bảo an toàn vệ sinh trong quá trình thi công. Một hình thức mới nhưng đã mang lại hiệu quả là thuê tư vấn giám sát về công tác an toàn vệ sinh cho công trình xây dựng. Lực lượng tư vấn giám sát về an toàn vệ sinh lao động là tập hợp những người có kiến thức, kinh nghiệm về lĩnh vực an toàn vệ sinh lao động, hoạt động độc lập so với chủ đầu tư và đơn vị thi công. Tại mỗi công trình, lực lượng tư vấn giám sát sẽ giúp chủ đầu tư, đơn vị thi công trong việc giám sát, thực hiện những biện pháp đảm bảo an toàn vệ sinh lao động. Đặc biệt, chính sự có mặt thường xuyên và trách nhiệm của lực lượng tư vấn giám sát sẽ kịp thời phát hiện và chấn chỉnh những sai phạm của người lao động, người sử dụng lao động trong quá trình làm việc, góp phần hạn chế đến mức thấp nhất sự cố tai nạn có thể xảy ra.

3.2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, huấn luyện

Tại các công trình xây dựng, hầu hết người sử dụng lao động đều nhận biết được những yếu tố nguy hiểm và có hại, nhưng có thể do tiết kiệm chi phí hoặc chưa biết được các biện pháp đảm bảo an toàn, do vậy đã không triển khai thực hiện, và chính điều này đã đặt người lao động trong tình huống luôn phải đối mặt với rủi ro, tai nạn lao động trên các công trình.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, xây dựng những hình thức tuyên truyền phù hợp với đặc trưng công trình xây dựng, với đối tượng người sử dụng lao động và người lao động để cung cấp những thông ti có liên quan, phù hợp với việc đảm bảo an toàn vệ sinh lao động.

Công tác tuyên truyền, huấn luyện cho người lao động phải cụ thể, chi tiết, với những hình ảnh sinh động đơn giản để người lao động dễ tiếp thu và áp dụng trong công việc hàng ngày. Ví dụ: Không được dùng gạch đá kê dưới chân giàn giáo, khi lắp đặt giàn giáo phải có đầy đủ thanh giằng và neo buộc chắc chắn vào công trình…

Khi người lao động được cung cấp một số tờ rơi với những hình ảnh, hướng dẫn đơn giản về những biện pháp phòng tránh tai nạn lao động, cải thiện điều kiện làm việc thì sẽ mang lại hiệu quả tích cực hơn.

Nâng cao ý thức tự bảo vệ sức khỏe của người lao động nhằm giúp họ tự biết bảo vệ mình, biết quý trọng sức khỏe của mình, ngăn ngừa được tai nạn, sự cố xảy ra trong quá trình làm việc.

3.3. Tư vấn hỗ trợ, giúp đỡ người lao động

Đa số người lao động trên các công trình xây dựng có hiểu biết hạn chế về mặt pháp lý, học vấn nên thường chịu thiệt thòi trong quá trình giải quyết các tranh chấp có liên quan với người sử dụng lao động và các chủ thầu.

Việc thành lập một tổ chức xã hội, một hiệp hội nhằm góp phần hỗ trợ, tư vấn một số vấn đề có liên quan, giúp đỡ cho người lao động làm việc trên các công trình xây dựng là một nhu cầu cấp thiết hiện nay:

- Tư vấn về mặt pháp lý cho người lao động khi xảy ra những tranh chấp về việc làm, về việc thực hiện một số chế độ chính sách trong công tác an toàn vệ sinh lao động.

- Hỗ trợ, giới thiệu người lao động tìm kiếm công việc phù hợp với bản thân khi công trình kết thúc hoặc vì những lý do gia đình không thể tiếp tục công việc tại công trình.

- Hỗ trợ vật chất, tạo điều kiện để người lao động có thể khắc phục những khó khăn do sức khỏe giảm sút, không thể tiếp tục công việc.

IV. Kết luận

Người lao động luôn có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước. Kinh tế phát triển bền vững phải gắn liền với việc đảm bảo an toàn và sức khỏe cho người lao động. Hiệu quả sản xuất của một đơn vị không thể chỉ thể hiện ở sự gia tăng khối lượng sản phẩm, lợi nhuận thu về mà phải được thể hiện qua đời sống, sức khỏe của người lao động trong đơn vị.

Trong giai đoạn hiện nay, do áp lực phải hoàn thành công trình đúng tiến độ, tiết kiệm chi phí, nhiều đơn vị thi công chưa quan tâm đúng mức đến việc đảm bản an toàn vệ sinh lao động, do vậy chúng ta cần phải tăng cường công tác kiểm tra giám sát, đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, triển khai các hướng dẫn cụ thể và chi tiết hơn để người sử dụng lao động, người lao động phát huy tính tự giác, chủ động trong việc thực hiện các biện pháp an toàn trong quá trình làm việc.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.