Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 16/08/2010 18:33 (GMT+7)

Một số đề xuất về bảo vệ môi trường trong khai thác than

Nếu ngay từ bây giờ không có những kế sách mạnh mẽ, thỏa đáng về BVMT trong khai thác than, môi trường vùng mỏ trong tương lai sẽ còn tồi tệ hơn, gây những thảm họa khôn lường cho hệ sinh thái và đời sống kinh tế - xã hội trong vùng. Để góp phần giải quyết cơ bản môi trường vùng mỏ, đáp ứng yêu cầu xanh - sạch - đẹp, ngoài việc tiếp tục thực hiện các biện pháp từ trước tới nay, cần có một số giải pháp về công cụ kinh tế và cơ chế chính sách.

Lập quy hoạch quản lý và BVMT ở các vùng than

Để có cơ sở triển khai thực hiện một cách toàn diện, đồng bộ và hiệu quả các hoạt động BVMT tại các mỏ, các vùng cũng như trong phạm vi toàn ngành và vùng lãnh thổ thuộc địa bàn ngành than, trước hết cần khẩn trương triển khai lập Quy hoạch quản lý, BVMT phù hợp với quy hoạch phát triển ngành than đến năm 2015 - triển vọng đến năm 2025 và Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương liên quan với các nội dung và giải pháp lớn. Đó là phân vùng quy hoạch BVMT căn cứ vào yêu cầu BVMT đối với từng vùng/ khu vực có thể phân ra vùng cấm các hoạt động khai thác, kinh doanh than; vùng BVMT đặc biệt; vùng BVMT thông thường; các khu vực đặc biệt khác như công trình/ khu vực khai thác cần bảo tồn hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng sau khi kết thúc hoạt động. Căn cứ vào các vùng BVMT đã được phân định cần xác định các tiêu chí, tiêu chuẩn BVMT phù hợp với từng vùng, từ đó đề xuất các hoạt động, các dự án, các giải pháp BVMT cần thực hiện để đạt được các tiêu chuẩn môi trường; xác lập các giải pháp môi trường trên cơ sở phân vùng quy hoạch, kế hoạch sản xuất than, diện tích khai thác, thời gian tồn tại, tải lượng ô nhiễm dự kiến trong tương lai, các tiêu chuẩn môi trường, các số liệu khảo sát thực địa. Xác lập các giải pháp BVMT cụ thể theo các lĩnh vực sau: Kiểm soát bụi, khí thải, tiếng ồn và độ rung; cải tạo hệ thống thoát và xử lý nước thải; nạo vét và xây kè sông, suối, hồ chứa nước; đắp đê, xây kè chống xói mòn, tụt lở ở các bãi thải, khai trường; tái trồng cây, phục hồi và cải tạo đất ở các khu vực mỏ và bãi thải; đổi mới công nghệ, thiết bị, vật liệu, năng lượng theo hướng sản xuất sạch hơn; thiết lập hệ thống quan trắc và phát triển công nghệ môi trường; tính toán nhu cầu vốn và lộ trình thực hiện. Đây là căn cứ để xác lập mức và huy động nguồn vốn cho quỹ môi trường than.

Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược sản xuất sạch hơn (SXSH)

Chúng ta biết rằng, quá trình khai thác than ngày càng xuống sâu, đi xa với điều kiện địa chất, điều kiện thủy văn, điều kiện khí mỏ…, ngày càng phức tạp khó khăn hơn. Điều đó không những kéo theo chi phí khai thác gia tăng mà còn gây ô nhiễm và các tác động xấu tới môi trường. Vì vậy, nếu không có cách tiếp cận mới đổi với vấn đề BVMT trong quá trình khai thác than thì không thể giải quyết được bài toán phát triển ngành than một cách bền vững. Cách tiếp cận mới đó chính là đưa và thực hiện chiến lược SXSH vào ngành than.

Chiến lược SXSH đối với ngành than cần tập trung vào việc tăng cường công tác quản lý nhằm giảm tiêu hao nguyên - nhiên - vật liệu và tổn thất than trong quá trình sản xuất, tàng trữ than và giảm thiểu chất thải vào môi trường. Đặc biệt, phải triển khai áp dụng mô hình quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14000 cho các doanh nghiệp; triển khai nghiên cứu áp dụng các giải pháp thay thế hoặc giảm tiêu hao các loại vật liệu dùng trong quá trình khai thác, sàng tuyển than; tăng cường các giải pháp kiểm soát quá trình sản xuất than tốt hơn từ góc độ hiệu quả kinh tế và BVMT; cải tiến, thay thế và đổi mới thiết bị trong các khâu khai thác, vận tải than, đất; hiện đại hóa và đổi mới công nghệ khai thác, sàng tuyển; nghiên cứu cải tiến hoặc chế biến các sản phẩm mới từ than; nghiên cứu áp dụng các giải pháp sử dụng năng lượng có hiệu quả hơn; nghiên cứu các giải pháp thu hồi, tái chế và tái sử dụng tại chỗ các loại phế liệu, phế thải trong quá trình sản xuất than; tổ chức tuyên truyền, tập huấn về SXSH cho cán bộ, công nhân trong toàn ngành than.

Cơ chế chính sách tạo vốn cho các hoạt động BVMT trong khai thác than

Để đảm bảo thực thi tốt mọi hoạt động BVMT trong khai thác than đã đề ra trong quy hoạch BVMT, vấn đề then chốt là phải có đủ kinh phí theo mức đã dự tính trong quy hoạch. Trên cơ sở kinh nghiệm hoạt động của Quỹ môi trường than thời gian qua và theo quy định của Luật BVMT, ngành than cần tiếp tục duy trì, phát triển Quỹ Môi trường than để tài trợ cho các hoạt động BVMT. Trong khi chưa lập được Quy hoạch BVMT làm cơ sở để xây dựng dự toán kinh phí cho các hoạt động môi trường, căn cứ vào kinh nghiệm của các nước đi trước, qua thực tiễn của Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam về việc trích kinh phí môi trường bằng 1% giá thành than và một số tính toán trong các dự án môi trường có liên quan cho thấy, nhu cầu kinh phí BVMT trong khai thác than thời gian tới phải đạt ít nhất 2% doanh thu hàng năm thì mới đảm bảo được mục tiêu môi trường xanh - sạch - đẹp.

Để có đủ kinh phí cho hoạt động BVMT trong khai thác than, thay vì trích 1% giá thành như hiện nay ngành than nên chuyển sang tạm thời trích 2% doanh thu than. Mức trích chính thức sẽ được xác định theo dự toán kinh phí đã lập trong quy hoạch BVMT than. Để có thể tạo vốn từ nội bộ ngành than và đó là nguồn vốn chính, đề nghị Nhà nước cho phép ngành than thực hiện chính sách định giá than trên nguyên tắc giá bán than trong nước phải tiếp cận giá FOB xuất khẩu than khi cung còn vượt cầu hoặc giá CIF nhập khẩu than khi cầu vượt cung trên thị trường nội địa. Thực hiện thu phí từ việc thụ hưởng một số nguồn lợi từ hoạt động khai thác than. Nguồn lợi do việc khôi phục những vùng đất đã bị phá hủy bề mặt trong quá trình khai thác than. Nguồn lợi do việc đổ thải đất đá lấn biển, vùng đầm lầy… theo quy hoạch để lấy diện tích đất xây dựng khu dân cư, khu công nghiệp và các nhu cầu khác của xã hội. Trong tương lai không xa, có thể có những khu vực, công trình sau khi kết thúc khai thác, đổ thải sẽ được cải tạo thành các hồ chứa nước nhân tạo, các khu/công trình bảo tồn, bảo tàng, các khu vui chơi, giải trí, công viên, các vườn thực vật… Bên cạnh đó, ngành than cần xây dựng và thí điểm thực hiện các phương án thu phí đối với các đối tượng thụ hưởng một vài nguồn lợi đó theo nguyên tắc "trả tiền tiêu dùng" để bù đắp các chi phí xây dựng, cải tạo và đóng góp vào Quỹ môi trường than. Đồng thời, tiếp tục và mở rộng việc thực hiện phương thức ứng vốn trước trồng rừng lấy gỗ trụ mỏ với các lâm trường địa phương như lâu nay đã làm.

Về phía Nhà nước, cần hỗ trợ phần chi phí BVMT của tổng sản lượng khai thác trước năm 1995. Các hình thức hỗ trợ có thể là cấp từ ngân sách, tài trợ từ Quỹ môi trường quốc gia, lồng ghép việc trồng cây ở một số khu vực khai thác và bãi thải sau khi kết thúc hoạt động vào các chương trình quốc gia có liên quan như Chương trình 327 "Phủ xanh đất trống, đồi trọc", Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng… Tạo điều kiện thuận lợi cho ngành than tiếp cận các nguồn vốn từ bên ngoài, bao gồm nguồn vốn của các tổ chức quốc tế, của chính phủ các nước… Bên cạnh đó, có cơ chế hỗ trợ việc di chuyển, cải tạo hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng một số công trình than vì lý do môi trường theo nguyên tắc chung là Nhà nước, ngành than, các ngành liên quan và địa phương cùng có trách nhiệm chia sẻ các lợi ích và chi phí phát sinh do thực hiện việc di chuyển, cải tạo hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng các công trình nêu trên, đồng thời, trợ vốn đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị và thực hiện các giải pháp SXSH.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Lâm Đồng: Hội thảo Giải pháp phát triển kinh tế ban đêm đến năm 2030
Sáng 1/10, tại Trung tâm Hành chính tỉnh Lâm Đồng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học về phát triển kinh tế ban đêm tỉnh Lâm Đồng. Với sự tham dự của đại diện lãnh đạo UBND tỉnh, lãnh đạo các sở, ban, ngành, địa phương cùng gần 100 chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý và đại diện cộng đồng doanh nghiệp.
Đắk Lắk: Liên hiệp Hội - Thành viên tích cực của Mặt trận trong giai đoạn mới
Là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk phát huy vai trò tập hợp, đoàn kết đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ, làm cầu nối giữa trí thức với Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Trong giai đoạn mới, Liên hiệp Hội tỉnh tăng cường phối hợp, phát huy nguồn lực trí tuệ, góp phần củng cố khối đại đoàn kết và thúc đẩy Đắk Lắk phát triển bền vững.
Đại hội Liên hiệp Hội thành phố Cần Thơ lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 01 và 02/10/2026, tại thành phố Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP Cần Thơ đã long trọng tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031. ThS. Bùi Minh Châu, nguyên Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ, được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2026-2031, Ban Chấp hành gồm 36 thành viên.
Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam tham dự Diễn đàn Vi điện tử Toàn Nga 2026
Từ ngày 27/9 đến 3/10, tại Đại học Khoa học - Công nghệ Sirius, Lãnh thổ Liên bang Sirius, Liên bang Nga, đã diễn ra Diễn đàn Vi điện tử Toàn Nga 2026 - một trong những diễn đàn chuyên ngành lớn của Nga về phát triển vi điện tử, cơ sở linh kiện điện tử và các công nghệ điện tử liên quan.
5 nhà khoa học của Liên hiệp Hội Việt Nam được tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” năm 2026
Sáng 2/10/2026, tại Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tổ chức Chương trình tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” lần thứ VII và trao giải Cuộc thi “Sáng tạo kỹ thuật Nhà nông” toàn quốc lần thứ XI năm 2026. Trong số 42 cá nhân được tôn vinh năm nay có 5 nhà khoa học do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam giới thiệu.
Thanh Hoá: Kinh tế tuần hoàn, tín chỉ Carbon và mô hình sản xuất không phát thải
Ngày 30/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức và Viện Nông nghiệp Thanh Hóa tổ chức Diễn đàn khoa học với chủ đề “Kinh tế tuần hoàn và tín chỉ Carbon - Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất không phát thải tại Thanh Hóa”.
Đắk Lắk: Phát huy nguồn lực trí thức, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh
Trong giai đoạn 2026-2030, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yêu cầu quan trọng để Đắk Lắk khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực cho phát triển. Cùng với KHCN và CĐS, ĐMST cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động của các viện, trường hay doanh nghiệp công nghệ, mà là một phương thức tổ chức nguồn lực để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của địa phương.
Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.