Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 01/02/2008 20:34 (GMT+7)

Một số đặc trưng của các nguồn động đất gây sóng thần

Ở Việt Nam , các nghiên cứu sóng thần đã được một số tác giả đề cập đến từ nửa cuối thập niên 90 của thể kỷ trước. Tuy nhiên, các kết quả đạt được từ lĩnh vực nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở mức độ tổng quan, sơ lược, còn chứa nhiều những yếu tố chủ quan. Sau thảm hoạ sóng thần tại Indonexia ngày 26 tháng 12 năm 2004, lần đầu tiên các nghiên cứu dự báo, cảnh báo sóng thần cho các vùng ven biển và hải đảo Việt Nam mới chính thức được Nhà nước quan tâm và đòi hỏi nghiên cứu với quy mô và mức độ chi tiết cao.

Trong các năm 2005 - 2006, Viện Vật lý Địa cầu được Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam giao triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học cấp Viện KH & CN Việt Nam “Nghiên cứu dự báo độ nguy hỉêm động đất sóng thần cho các vùng ven biển Việt Nam phục vụ mục tiêu phòng chống giảm nhẹ thiên tai” với mục tiêu tiến hành những nghiên cứu tổng quan về độ nguy hiểm sóng thần và các biện pháp phòng tránh trong các vùng ven biển. Trong các năm 2007 - 2008, Viện Địa chất và Hạt nhân Newzeeland cùng với Viện Vật lý địa cầu, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam xây dựng Dự án hợp tác đánh giá độ nguy hiểm sóng thần và sự ứng phó của Việt Nam với mục tiêu chủ yếu là chuyển giao công nghệ và đào tạo chuyên gia Việt Nam trong lĩnh vực nghiên cứu sóng thần. Năm 2006, Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt đề tài cấp bộ “Xây dựng bản đồ cảnh báo nguy cơ sóng thần cho các vùng biển Việt Nam ” với mục tiêu là xây dựng các kịch bản ngập lụt các vùng ven biển do sóng thần.

Với những nhiệm vụ khoa học mang tính tổng quan như trên, một loạt các hướng nghiên cứu phục vụ mục tiêu dự báo độ nguy hiểm sóng thần đã và đang được triển khai ở mức độ khác nhau. Tuy nhiên, các kết quả đạt được từ các hướng nghiên cứu này còn chứa đựng khá nhiều bất cập, mà nguyên nhân cơ bản là chúng ta chưa có được hệ thống phương pháp luận và phương pháp hợp lý và khoa học trong nghiên cứu dự báo sóng thần và độ nguy hiểm sóng thần. Trong bài báo này tác giả mong muốn cung cấp được một số thông tin cần thiết, giúp các nhà khoa học có một sự nhìn nhận toàn diện hơn về đặc điểm của các nguồn động đất gây sóng thần, để từ đó có được cách tiếp cận đúng đắn hơn trong nghiên cứu dự báo độ nguy hiểm sóng thần ở Việt Nam.

Một số đặc điểm của các nguồn động đất gây sóng thần.

Để nghiên cứu đặc điểm của các nguồn động đất sóng thần, các số liệu về động đất, cơ cấu chấn tiêu và sóng thần tại các vùng biển Đông Nam Á, Nhật Bản và các vùng lân cận đã được thu thập và cập nhật tới năm 2003. Số liệu sóng thần có chiều dài quan sát hàng trăm năm (từ năm 684 đối với vùng biển Nhật Bản và từ năm 416 đối với Đông Nam Á). Tuy nhiên để đạt được tính đồng nhất và tính phù hợp cao giữa các nguồn số liệu, các phân tích trong bài báo này chỉ dựa trên các số liệu từ 1900 đến nay và trong nghiên cứu đặc điểm cơ cấu chấn tiêu của động đất sóng thần, tác giả chỉ sử dụng số liệu từ 1978 đến nay, khi mà phương pháp moment tensor được hoàn thiện, áp dụng rộng rãi và có hiệu quả tại nhiều nước trên thế giới. Đây cũng là phương pháp chủ đạo để nghiên cứu cơ cấu chấn tiêu động đất trong giai đoạn hiện nay.

Đặc điểm phân bố theo Magnitude của các nguồn động đất gây sóng thần

Hình 1: Đặc điểm phân bố động đất sóng thần theo magnitude

Hình 1: Đặc điểm phân bố động đất sóng thần theo magnitude

Magnitude của động đất sóng thần thay đổi trong phạm vi khá rộng, từ các giá trị M 6 đến M 8.6. Trong vùng biển Nhật Bản, số động đất sóng thần có giá trị magnitude nằm trong khoảng M 6, M =6.1 - 7.0, M = 7.1 - 8.0 và M 8.1 có giá trị tương ứng bằng 6, 68, 49 và 7, trong đó có 5 trận động đất M
Hình 2: Đặc điểm phân bố động đất sóng thần theo độ sâu chấn tiêu

Hình 2: Đặc điểm phân bố động đất sóng thần theo độ sâu chấn tiêu

= 8.1 - 8.5. Trong khu vực Đông Nam Á, số động đất tương ứng với các khoảng magnitude nêu trên tương ứng bằng 26, 61, 70, và 14, trong đó có 11 động đất M = 8.1 - 8.5 và 3 động đất M 8.6(Hình 1). Như vậy khác với những nhận định trước kia cho rằng, chỉ có các trận động đất M>7 mới có khả năng phát sinh sóng thần, trong các khu vực nghiên cứu, các trận động đất sóng thần yếu hơn,M>7, lại chiếm 1 tỷ lệ đáng kể, 57% đối với vùng biển Nhật Bản và 60.6% đối với khu vực Đông Nam Á…Đặc điểm phân bố theo độ sâu của các nguồn động đất gây sóng thần.

Hình 3: Đặc điểm phân bố động đất sóng thần theo góc dốc của bề mặt phá huỷ

Hình 3: Đặc điểm phân bố động đất sóng thần theo góc dốc của bề mặt phá huỷ

Kết quả phân tích tổng hợp cho thấy, các nguồn động đất sóng thần chủ yếu tập trung trong dải độ sâu từ 5 - 10 km đến 40 - 50 km. Trong số 84 giá trị độ sâu của động đất gây sóng thần quansát được, có tới 82 giá trị nằm trong dải độ sâu kể trên. Trong vùng biển Nhật Bản, động đất sóng thần chủ yếu tập trung trên các độ sâu H = 10 - 30 km
Hình 4: Đặc điểm phân bố động đất sóng thần theo góc trượt của bề mặt phá huỷ

Hình 4: Đặc điểm phân bố động đất sóng thần theo góc trượt của bề mặt phá huỷ

(63%), 30 - 50 km (24%) và chỉ có 13% động đất sóng thần nằm bên ngoài các khoảng sâu này (H 10 km và H 50 km). Tương tự tai khu vực biển Đông Nam Á, đông đất sóng thần tập trung ở các khoảngđộ sâu trên tương ứng bằng 34.2%, 60.6% và 5.2%. Kết quả trên cho thấy, động đất sóng thần là động đất nông, phân bố chủ yếu trên các độ sâu tới khoảng 30 - 40m.

Đặc điểm cơ cấu chấn tiêu của động đất sóng thần

Các dạng cơ cấu chấn tiêu động đất.

Khi sử dụng nguồn động đất loại ngẫu lực kép (Double - couple sourse model), các mô hình cơ cấu chấn tiêu động đất đựợc thể hiện qua 7 thông số động lực: Ba ứng suất cơ bản: nén (P), giãn (T) và trung gian (N); Hai bề mặt ứng suất tiếp tuyến cực đại (NP1 và NP2) và hai góc hợp bởi hai véc tơ dịch chuyển trên bề mặt ứng suất tiếp tuyến cực đại và phương nằm ngang 1 và 2.

Trong thực tế, phần lớn các cơ cấu chấn tiêu quan sát được đều thuộc dạng hỗn hợp, chứa đồng thời cả thành phần trượt bằng, (strike - slip) lẫn thành phần trượt chờm (dip - slip), mà độ lớn của chúng có thể đánh giá dựa vào các góc trượt.

Đặc điểm cơ cấu chấn tiêu của động đất sóng thần

Kết quả phân tích 57 mô hình cơ cấu chấn tiêu của động đất sóng thần cho thấy phần lớn bề mặt phá huỷ tại các chấn tiêu động đất sóng thần có độ dốc lớn 86% và chỉ 14% số bề mặt phá huỷ có độ dốc 45 – 60 o. Kết quả này cho phép đánh giá rằng, các đứt gẫy sinh chấn độ dốc lớn có khả năng phát sinh động đất sóng thần cao.

Góc trượt 1 là góc giữa véc tơ dịch chuỷên và phương nằm ngang được xác định trên bề mặt phá huỷ tại chấn tiêu. Theo các phân loại cơ cấu chấn tiêu trình bày ở trên, thì trong số 57 mô hình cơ cấu chấn tiêu có tới 31 mô hình thuộc kiểu trượt chờm (55.5%), 14 cơ cấu chấn tiêu thuộc kỉêu trượt chờm có chứa thành phần trượt chờm đáng kể (chiếm 26.3%) và 11 cơ cấu chấn tiêu thuộc các kiểu trượt bằng có chứa yếu tố trượt chờm (chứa 18.2%). Như vậy, cơ chế chuyển động trượt chờm và trượt chờm chứa thành phần trượt bằng là cơ chế chuyển động đặc trưng của động đất gây sóng thần.

Các kết quả phân tích ở trên cho thấy, động đất gây sóng thần liên quan với các chuyển động đặc trưng trong vỏ Trái đất. Đó là các chuyển động dạng trượt chờm hoặc trượt chờm chứa yếu tố trượt bằng.Các chuyển động này xảy ra trong các hệ đứt gẫy hoạt động có độ dốc lớn. Đối với các đứt gẫy thoải hơn 60 okhả năng phát sinh động đất sóng thần là rất thấp.

18% động đất gây sóng thần thuộc dạng trượt bằng hoặc trượt bằng chứa yếu tố trượt chờm xảy ra trong các vùng biển Nhật Bản và Đông Nam Á là một phát hiện mới, nằm ngoài dự đoán của hầu hết các nhà địa chấn. Tuy nhiên cơ chế phát sinh sóng thần từ các nguồn động đất loại này cần được tiếp tục nghiên cứu.

Kết luận

Trên cơ sở phân tích 301 giá trị magnitude, 84 giá trị độ sâu chấn tiêu và 57 mô hình cơ cấu chấn tiêu động đất, những đặc trưng cơ bản của các nguồn động đất gây sóng thần trong các vùng biển Nhật Bản và Đông Nam Á đã được xác định. Magnitude của động đất sóng thần thay đổi trong một khoảng rộng, từ các giá trị M 6 đến M 8.6, trong đó động đất sóng thần trong các khoảng magnitude M = 6.1 - 7.0 và 7.1 - 8.0 chiếm tới 46% và 40%. Động đất sóng thần chủ yếu nằm trong dải độ sâu từ một vài ki lô mét tới 30 - 40 km, trong đó tập trung chủ yếu ở các độ sâu 10 - 30km, ở vùng Nhật Bản và 30 - 50km ở khu vực Đông Nam Á. Động đất sóng thần chủ yếu xảy ra trên các bề mặt đứt gẫy dốc đứng, (77.6%) hoặc gần dốc đứng (21.4%) và chỉ 5% số động đất sóng thần xảy ra trên các bề mặt dốc 40 – 50 o. Các chuyển động của vỏ trái đất gây sóng thần chủ yếu thuộc kiểu trượt chờm, hoặc trượt chờm có yếu tố trượt bằng (81.8%) và chỉ một số ít thuộc kiểu trượt bằng hoặc trượt bằng có yếu tố trượt chờm (18.2%).

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.