Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 13/05/2010 18:34 (GMT+7)

Một số cây thuốc trong rừng ngập mặn

Kiểu rừng này ở Việt Nam có khoảng 156.608 ha (bằng 2,2% tổng diện tích rừng trong cả nước), nằm dọc theo vùng đất lầy ven biển, cửa sông, từ Trà Cổ ở Đông Bắc, vòng xuống phía Nam qua mũi Cà Mau đến Hà Tiên, giáp với bờ biển của Campuchia. So với các kiểu rừng trên đồi núi, tính đa dạng về loài thực vật của rừng ngập mặn kém phong phú hơn nhiều.

Ở Việt Nam, các nhà khoa học đã thống kê được 51 loài cây, trong đó có 14 loài cho tanin, 14 loài làm thức ăn gia súc, 30 loài cho gỗ, củi, than, và đặc biệt có nhiều loài cây làm thuốc. Trước hết, nói về những cây làm thuốc trong họ Đước (Rhizophoraceae). Họ này ở nước ta có 4 trong 5 chi là thành phần của rừng ngập mặn, với 10 loài, trong đó có những cây mà ngoài các giá trị như lấy gỗ, đốt than… chúng còn là nguồn cung cấp tanin và được dùng làm thuốc như Đước, Trang, Dà, Vẹt.

Cây Trang mang quả với rễ mầm dài.

Cây Đước đôi, hay Đước bộp (Rhizophora apiculata Bl.), là loài cây gỗ mọc ven biển vùng nhiệt đới Bắc bán cầu. Rừng Đước Cà Mau có cây cao đến 30m, đường kính gốc thân tới 40 – 60cm (cây Đước ở miền Bắc thường nhỏ hơn), có nhiều rễ chống mọc xoè ra quanh gốc thân như cái nơm to để chống đỡ cho cây khỏi đổ. Lá dày, phiến hình bầu dục, đầu nhọn, gốc tù, mặt dưới lá có chấm đen. Lá kèm dài 4 – 9cm. Cụm hoa là xinh hai hoa ở nách các lá đã rụng. Hoa màu vàng nhạt hay trắng, dài 1,5 – 2cm. Quả hình quả lê, dài 2 – 2,5cm, màu nâu, rễ mầm hình trụ thõng xuống, màu xanh lục, dài 20 – 38cm, phía dưới hơi phình to. Cây ra hoa quanh năm; quả chín tháng 6 – 11. Cây có khả năng nẩy mầm từ quả ở ngay trên cành (cây thai sinh) và cũng tái sinh bằng chồi rất khoẻ. Các loài Đước ở Việt Nam thường gặp trong các rừng Sú, Vẹt, trên đất phù sa nhiều bùn, nơi đất ngập thuỷ triều hằng ngày, phổ biến ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam.

Vỏ cây Đước chứa nhiều vitamin, có tác dụng làm săn, cầm máu, chữa viêm họng và trị tiêu chảy (Trung Quốc, Nhật Bản), chữa lỵ, đái ra máu (Myanmar). Ở Ấn Độ, nó được dùng trong điều trị bệnh tiểu đường. Ở Campuchia, người dân thường dùng rễ Đước chữa các bệnh thấp khớp. Người ta đã thử cho bò sữa ăn lá Đước, thấy lượng sữa và hàm lượng chất dinh dưỡng trong sữa tăng lên. Ngoài ra, vỏ Đước còn dùng để nhuộm lưới và thuộc da. Gỗ Đước cứng nặng, khi tươi dễ gia công, khó cưa khi khô, được dùng trong xây dựng, làm khung nhà, trụ cầu, trụ mỏ và đóng đồ mộc.

Cây Dà mang quả với rễ mầm dài.

Theo số liệu nghiên cứu năm 1984, rừng Đước Cà Mau mỗi năm cung cấp cho hệ sinh thái rừng ngập mặn ở đây hàng chục tấn lá khô/ ha. Lớp lá này tạo thành mùn làm thức ăn cho tôm cá và các động vật thuỷ sinh. Vì vậy mà người dân ở Minh Hải có câu “cây Đước rước con tôm, con tôm ôm cây Đước”.

Ngoài Đước đôi, còn có cây Đước nhọn, hay Đước xanh (Rhizophora mucronata Poir), và đước Đước chằng (Rhizophora stylosa Griff). Vỏ các cây này đều chứa nhiều tanin và cũng được sử dụng như loài trên.

Cây trang, còn gọi là Vẹt đìa, Vẹt khang. Chi trang (Kandelia) ở Việt Nam có 2 loìa: Cây Trang ở miền Bắc thuộc loài K. obovata Seue, Liu & Young và cây Trang ở miền Nam thuộc loài K. candel(L.) Druce. Đây là cây gỗ nhỏ, cao 5 – 7m, gặp ở nơi đất ngập thủy triều hằng ngày, không có rễ thở. Lá mọc đối, có phiến thon, dài 5 – 12cm, rộng 2,5 – 5cm, mép thường uốn xuống, lá kèm cao 2cm. Cụm hoa là xim lưỡng phân, mang nhiều hoa trắng, cánh hoa cao 14mm, chẻ hai và rìa thành sợi dài; nhị nhiều; cuống hoa dài 2,5 – 5mm. Quả dài 1 – 1,5cm, có đài uốn xuống. Rễ mầm hình trụ, dài 15 – 30cm. Mùa hoa, quả: tháng 5 – 10.

Loài này phân bố ở các nước Đông Nam Á, cũng có ở ven biển Trung Quốc, Ấn Độ. Ở Việt Nam, cây Trang mọc ở rừng ngập mặn từ Quảng Ninh đến Long An, Minh Hải, Kiên Giang. Người dân vùng ven biển Thái Bình, Hà Nam trồng làm cây bảo vệ đê ven biển và nuôi ong mật.

Vỏ Trang chứa tanin, dùng để nhuộm lưới. Ở Ấn Độ, vỏ cũng phối hợp với Gừng khô, Hồ tiêu và nước Hoa hồng dùng làm thuốc trị bệnh tiểu đường. Quả Trang ăn được, thường dùng để nuôi lợn.

Cây Dà,hay Dà vôi, Dà đỏ, Dà nét ( Ceriops tagal(Perr) C. B. Rob). Khu phân bố từ Đông Phi tới Nam Á, Australia và Melanesia. Ở Việt Nam, cây này gặp ở các bãi lầy ven biển, thường mọc lẫn với cây Đước và Vẹt (hoặc thành rừng thuần loại). Đây là cây gỗ nhỡ, có khi cao tới 10 – 15m, đường kính thân tới 20cm. Vỏ thân màu xám. Quanh gốc cũng có nhiều rễ chống nhỏ. Lá nguyên hình bầu dục, mọc đối, tập trung ở phần cuối các cành. Lá kèm hình mũi mác. Cụm hoa là một xim ở nách lá hay đầu cành, gồm 5 – 10 hoa. Đài hợp, tồn tại trên quả. Cánh hoa thuôn, mỏng, dính nhau ở gốc, màu trắng, sau chuyển sang màu nâu, đỉnh có 3 phần phụ hình chuỳ. Nhị gấp đôi số cánh, không đều nhau. Bầu nửa dưới 3 ô, mỗi ô chứa 2 noãn. Quả hình trứng, rễ mầm dài hình trụ, hơi có cạnh. Quả tháng 5 – 8.

Vỏ cây Dà chứa nhiều tanin, có tác dụng làm săn, dùng đắp cầm máu vết thương. Ở châu Phi, có nơi dùng nước sắc chồi cây Dà để chữa bệnh sốt rét. Nó cũng được dùng để ăn trầu, nhuộm lưới, buồm và dây câu. Có thể pha với thuốc nhuộm khác để nhuộm màu đỏ hoặc đen. Gỗ Dà trong xây dựng, đóng thuyền và làm than củi cho nhiệt lượng cao. Quả cũng có thể ăn được.

Cây Vẹt mang hoa và quả.

Cây Vẹt dù,còn là Vẹt rễ lồi ( Bruguiera gymnorrhiza(L.) Sagigny). Đây là loại cây của châu Á nhiệt đới, thường mọc ở nơi có bùn dọc bờ biển nước ta, nơi đất ngập thuỷ triều hằng ngày. Cây cũng có thể mọc trên chỗ đất khô mặn ít khi thuỷ triều ngập. Vẹt là cây gỗ, cao 20 – 25cm, đường kính thân tới 40cm, có rễ thở hình trụ, cong như đầu gối. Lá dai, hình dầu bục, dài 8 – 11cm, rộng 3 – 5cm, tù ở gốc, nhọn ở đầu, cuống lá dài 2 – 4cm. Hoa đơn độc ở nách lá, thõng xuống. Quả có các lá đài cong; rễ mầm mập, nhọn đầu, hơi có góc. Mùa hoa, quả: tháng 3 – 6, có khi ra hoa gần như quanh năm.

Vỏ Vẹt chứa nhiều tanin, vị chát; có tác dụng làm săn, dùng để nhuộm vải, lưới và thuộc da. Ở Campuchia vỏ Vẹt dùng làm thuốc trị tiêu chảy. Rễ mầm chứa nhiều tinh bột, có thể chế biến làm thức ăn gia súc. Quả dùng để ăn với trầu.

Một số loài cùng chi như Vẹt đen ( Bruguiera sexangula(Lour.) Poir.), Vẹt trụ ( B. cylindrica(L.) Bl.) cũng có công dụng như Vẹt dù. Rễ non của Vẹt trụ có thể nấu ăn như rau.

Gỗ Vẹt cứng rắn, dùng làm nhà, xẻ ván, làm tà vẹt và làm củi. Than của cây Đước và Vẹt rất được ưa chuộng vì ít khói, nhiệt lượng cao (1 kg than Đước cho 6.675 Kcalo, than Vẹt cho 6.375 Kcalo).

Rừng ngập mặn nói chung, trong đó có những cây thuộc họ Đước, đã tạo nên một hệ sinh thái ven biển hết sức quan trọng, không chỉ về mặt môi trường, bảo vệ đê biển, mà còn là một nguồn lợi kinh tế, góp phần nâng cao mức sống cho người dân địa phương. Đó là nơi cung cấp thức ăn gia súc và cư trú cho nhiều loài hải sản, chim, thú và cũng là nơi cung cấp nhiều sản phẩm như gỗ, củi, than, lá lợp nhà, mật ong và nguyên liệu làm thuốc. Điều đặc biệt, rừng ngập mặn còn có khả năng tích luỹ một lượng lớn cabon, tạo bể chứa cacbon, để làm giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính, ứng phó với những biến đổi khí hậu toàn cầu.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW
Sáng 30/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ban biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Nhìn từ chiều sâu văn hóa làng xã
Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện về tinh gọn bộ máy, tổ chức lại địa giới hành chính màcòn là phép thử về năng lực quản trị những giá trị mềm: tên làng, ký ức cộng đồng, di sản, thiết chế văn hóa, không gian tín ngưỡng và cảm giác thuộc về của người dân.
Hội nghị AFEO Midterm 2026
Ngày 30/6, tại Yangon, Myanmar, Liên đoàn các tổ chức kỹ sư ASEAN (AFEO) chính thức khai mạc phiên toàn thể Hội nghị giữa kỳ lần thứ 25. Đây là diễn đàn thường niên được tổ chức nhằm để các nhà khoa học, các kỹ sư, các chuyên gia cùng chia sẻ, thảo luận các giải pháp trong việc xây dựng một tương lai bền vững cho khu vực ASEAN.
Lào Cai: 118 hộ đồng bào dân tộc thiểu số hưởng lợi từ mô hình cấp nước tự quản
Sau gần một năm triển khai, Dự án “Hỗ trợ nước sinh hoạt cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân tộc thiểu số thôn 4, xã Khánh Hòa, tỉnh Lào Cai” do Trung tâm Hỗ trợ phát triển bền vững cộng đồng các dân tộc miền núi (SUDECOM) thực hiện đã hoàn thành mục tiêu, đánh dấu một mô hình điểm về quản lý, vận hành hệ thống cấp nước dựa vào cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống cho 118 hộ dân.