Một số biện pháp phòng, chống bệnh dại ở động vật
Nguồn mang mầm bệnh chủ yếu là chó (90%), mèo nuôi (5%) và động vật hoang dã. Khi động vật mắc bệnh cào, cắn, liếm vào người, virut từ nước bọt sẽ lây truyền qua da và niêm mạc bị tổn thương. Virut xâm nhập vào cơ thể được nhân lên và hướng tới hệ thần kinh, phá hủy mô thần kinh, gây nên những kích động điên dại và kết thúc bằng cái chết. Động vật sau khi nhiễm virut dại có thời gian ủ bệnh khác nhau tùy thuộc loài, độc lực của virut và vị trí vết cắn. Thời gian ủ bệnh ở con vật có thể kéo dài vài tuần đến vài tháng, có thể lâu hơn nhưng trước 10-15 ngày phát bệnh thường thải virut qua nước bọt gây nhiễm cho người, gia súc khác qua vết cào, cắn, liếm.
1. Tác nhân gây bệnh dại: Bệnh dại ở người và động vật do Lyssa virus và Vesiculo virus thuộc họ Rhabdoviridae gây ra. Virut gây bệnh dại ở Việt Nam có tính kháng nguyên tương đối ổn định, ít có sự thay đổi biến dị.
2. Sức đề kháng của virut dại: Ở nhiệt độ 56 0C, virut dại bị vô hoạt trong 30 phút, ở 80 0C trong 2 phút. Virut mất độc lực dưới ánh sáng và các chất sát trùng ở nồng độ 2-5%. Các chất tẩy rửa như xà phòng (bột giặt) có thể tiêu hủy virut dại ở vết thương do hòa tan lớp vỏ lipoprotein của chúng.
3. Cách lây truyền:
Việc lây truyền virut dại giữa động vật với động vật và giữa động vật với người chủ yếu xảy ra qua các vết cắn, vết liếm, tiếp xúc trực tiếp, nhiễm qua niêm mạc bị tổn thương, cũng có thể do cấy ghép phủ tạng của người bị bệnh dại nhưng không được phát hiện.
4. Triệu chứng lâm sàng:
a) Thời kỳ ủ bệnh: Thời kỳ ủ bệnh dại có thể thay đổi từ 7 ngày đến nhiều tháng. Đa số bệnh phát ra trong vòng 21-30 ngày sau khi con vật nhiễm virut.
b) Biểu hiện lâm sàng: Được chia làm 2 thể là thể dại điên cuồng và thể dại câm (bại liệt).
Thể dại điên cuồng: được chia làm 3 thời kỳ:
Thời kỳ tiền lâm sàng: Chó bị dại có dấu hiệu khác thường như trốn vào góc tối, kín đáo, đến gần chủ miễn cưỡng hoặc trái lại tỏ va vồn vã thái quá, thỉnh thoảng sủa vu vơ, tru lên từng hồi; hoặc bồn chồn nhảy lên đớp không khí.
Thời kỳ điên cuồng: Các phản xạ vận động bị kích thích mạnh, cắn sủa người lạ dữ dội, quá vồ vập khi chủ gọi, chỉ cần có tiếng động nhẹ cũng nhảy lên sủa từng hồi dài, vết thương do bị cắn ngứa, chó liếm hoặc tự cắn, cào đến rụng lông, chảy máu. Chó bỏ ăn, nuốt khó, sốt, giãn đồng tử, con vật biểu hiện khát nước, muốn uống nhưng không nuốt được, chó bắt đầu chảy nước dãi, sùi bọt mép, tỏ vẻ bồn chồn, đi lại không có chủ định, trở nên dữ tợn, điên cuồng (2-3 ngày sau khi phát bệnh). Con vật bỏ nhà ra đi và thường không trở về; trên đường đi, gặp vật gì lạ nó cũng cắn gặm, ăn bừa bãi, tấn công chó khác, kể cả người.
Thời kỳ bại liệt: Chó bị liệt không nuốt được thức ăn, nước uống, liệt hàm dưới và lưỡi nên trễ hàm, thè lưỡi ra ngoài, nước dãi chảy ra, chân sau liệt ngày càng rõ; chó chết trong khoảng từ 3-7 ngày sau khi có triệu chứng đầu tiên, do liệt cơ hô hấp và do kiệt sức vì không ăn uống được.
Thể dại câm: Là dạng bệnh không có các biểu hiện lên cơn dại điên cuồng như thường thấy; chó chỉ có biểu hiện buồn rầu. Con vật có thể bị bại ở một phần cơ thể, nửa người hoặc hai chân sau, nhưng thường là liệt cơ hàm, mồm luôn hé mở, hàm trễ xuống lưỡi thè ra; nước dãi chảy lòng thòng, con vật không cắn, sủa được, chỉ gầm gừ trong họng. Qúa trình này tiến triển từ 2-3 ngày.
Nói chung, thể dại câm tiến triển nhanh hơn thể dại điên cuồng, thông thường từ 2-3 ngày vì hành tủy của con vật bênh bị vi rút tác động làm rối loạn hệ tuần hoàn và hô hấp sớm hơn.
5. Các biện pháp phòng, chống bệnh dại
5.1. Biện pháp phòng bệnh
- Các tổ chức cá nhân nuôi, buôn bán, giết mổ,…phải thực hiện 5 không sau:
+ Không nuôi chó, mèo chưa khai báo với chính quyền địa phương.
+ Không nuôi chó, mèo không tiêm phòng bệnh dại.
+ Không nuôi chó thả rông.
+ Không để chó cắn người.
+ Không nuôi chó, mèo gây ô nhiễm môi trường.
- Chó, mèo chỉ được nuôi thả trong khuôn viên của gia đình, chuồng nuôi phải được che chắn, cách ly, nền chuồng phải cao ráo và đảm bảo các điều kiện vệ sinh và thường xuyên khử trùng, tiêu độc đối với chuồng nuôi;
- Con giống được đưa về nuôi phải khỏe mạnh, có giấy chứng nhận kiểm dịch của cơ quan thú y. Trước khi cho nhập đàn phải được nuôi cách ly, theo dõi 21 ngày.
- Chó, mèo được đưa về nuôi phải khai báo với cơ quan thú y có thẩm quyền tại địa phương biết để kiểm tra, giám sát bệnh, tiêm phòng vắc xin dại theo quy định.
- Hàng năm vào khoảng tháng 3-4 các chủ vật nuôi phải tiêm phòng vắc xin dại định kỳ hàng năm cho chó, mèo.
5.2. Các biện chống dịch
- Khi phát hiện chó, mèo có các biểu hiện khác thường như bỗng nhiên trở lên hung dữ cào, cắn người hay động vật khác một cách vô cớ thì chủ nuôi phải khai báo ngay với cơ quan thú y nơi gần nhất, đồng thời nhốt riêng chó, mèo nghi mắc bệnh, không cho tiếp xúc với động vật cảm nhiễm xung quanh để theo dõi trong 21 ngày.
- Khi phát hiện động vật chết, mắc bệnh, nghi mắc bệnh dại phải tiêu huỷ ngay và cách ly triệt để những con vật dã tiếp xúc với chó, mèo nghi dại. Tiêm phòng vắc xin dại khẩn cấp cho chó, mèo ở vùng có dịch.
- Khi chó, mèo chết do bệnh dại, hoặc nghi mắc bệnh dại, các chủ nuôi phải thu gom các chất thải rắn để đốt hoặc chôn, rửa nền chuồng, dụng cụ chăn nuôi bằng nước xà phòng. Đối với chất thải lỏng phải được xử lý bằng hóa chất. Vệ sinh khử trùng tiêu độc chuồng cũi, dụng cụ chăn nuôi, vận chuyển, chế biến, môi trường liên quan đến con vật.
* Đối với người bị chó, mèo dại cắn, cần phải xử trí vết thương theo trình tự sau:
- Rửa sạch vết cắn cắn nhiều lần với xà phòng đặc hoặc các chất tẩy giặt khác, rửa vết thương dưới vòi nước mạnh ít nhất 5 phút, lấy bỏ hết dị vật và mô dập nát.
- Sát trùng vết thương bằng dung dịch cồn 70% hoặc dung dịch iode. Không khâu kín da hoặc băng quá kín.
- Dùng kháng sinh phòng ngừa vết cắn.
- Đề phòng uốn ván bằng huyết thanh kháng độc tố (SAT) và vắc xin (Tetavax).
- Nếu nạn nhân bị chó, mèo cắn (không biết là có bị dại hay không) nên chủng ngừa sớm trong vòng 2 ngày thì hiệu quả phòng bệnh rất cao, chủng ngừa chậm thì thì hiệu quả sẽ giảm nhưng vẫn còn hiệu quả, do đó có chủng vẫn còn hơn.
- Đối với con chó cắn người, nếu còn sống nên nhốt nó trong 10 ngày và theo dõi, nếu chó vẫn còn khoẻ mạnh thì có thể ngưng các biện pháp điều trị. Nếu chó bị đập chết, nên cắt đầu chó để xét nghiệm xác định bệnh dại.








