Một công trình sưu tầm, biên soạn văn học dân gian được khởi thảo cách đây 86 năm
Đó là cụ Nguyễn Đình Thông (1891-1962), nguyên giáo viên Trường Bưởi - Hà Nội, Đốc học Hà Đông, Thanh tra bình dân giáo dục Bộ Giáo dục. Nhà giáo tâm huyết với văn học dân gian đó đã dành gần như cả cuộc đời mình để sưu tầm văn học dân gian và biên soạn cuốn sách này. Công trình được khởi thảo từ mùa xuân năm 1919, như tác giả đã viết trong Lời nói đầu: “Trong khoảng 6 năm, từ 1919 đến 1925, nhậm chức Đốc học các trường tỉnh Hà Đông, tôi đã có dịp trực tiếp với các bạn giáo viên để sưu tầm những câu ví, tục ngữ, phong dao, bài hát, v.v... của địa phương, mục đích để giúp được một phần nào bạn tôi, ông Nguyễn Văn Ngọc, đã yêu cầu để làm tài liệu cho quyển Tục ngữ phong dao,nay đã xuất bản”. Sau đó có hai lần bổ sung quan trọng: đó là vào những năm trước Cách mạng tháng Tám 1945, do bất bình với thời cuộc, cụ bỏ nghề dạy học chuyển sang làm đồ gỗ mĩ nghệ, có thì giở rảnh rang tu chỉnh công trình; và một lần gần hai năm 1951 - 1952, khi tác giả được cử làm Thanh tra bình dân giáo dục, “lại được một dịp nữa gần các anh chị em giảng viên và nhờ đó đã thu thập thêm được một số tài liệu nữa về những câu ví, đố, phương ngôn, ca vè tả chân phong tục dân tộc Việt Nam qua các thời đại, phần nhiều là những câu truyền khẩu thế hệ nọ sang thế hệ kia, những câu chất phác, thô sơ, hồn nhiên, hài hước, chua cay, mỉa mai... của đủ các tầng lớp dân tộc ta từ nông thôn đến thành thị.” ( Lời nói đầu).
Công trình này được hoàn chỉnh vào mùa thu năm 1955, kéo dài trong một khoảng thời gian gần 40 năm, với một tâm nguyện tha thiết của cụ là mong được mọi người biết đến để góp một phần vào việc sưu tầm, khảo cứu văn học dân gian của nước nhà. Khi qua đời, cụ đã để lại di chúc cho con rể là ông Huỳnh Quốc Thạnh, cán bộ Ban Thống nhất Trung ương (đã về hưu), giao cho ông Thạnh quản lý, sử dụng công trình này sao cho có lợi nhất. Ông Thạnh đã cất giữ bộ sưu tập cẩn thận ngót 30 năm, và sau đó đã đem gửi vào Trung tâm lưu trữ quốc gia I(Hà Nội) với ý nghĩ: “... đưa vào lưu trữ quốc gia là nơi tin cậy nhất, bảo đảm nhất. Tôi được biết cơ quan lưu trữ không chỉ là nơi bảo quản đơn thuần mà còn thường xuyên mở cửa để mọi người đến khai thác sử dụng. Như thế công trình của cụ tôi chắc chắn sẽ được phát huy, được nhiều người biết đến”. (2)
Nửa thế kỉ đã trôi qua (từ khi công trình hoàn thành) và sau 43 năm (từ khi tác giả qua đời), đến nay, người cháu nội của cụ là bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết (giáo viên Hà Nội, đã về hưu) mới có ý định đưa in bộ sách của cụ, và đã được Nhà xuất bản Hội Nhà văn tận tình giúp đỡ. Cuốn sách đã ra mắt bạn đọc, tác giả đã đạt được tâm nguyện cả đời mình và các con cháu cụ cũng được thoả lòng. Giờ đây, ở cõi vĩnh hằng chắc cụ cũng vui lòng khi công trình của mình đã được mọi người biết đến.
Bộ sưu tập Dân tộc Việt Nam qua các câu ví, tục ngữ, phương ngôn, phong dao, ca vè...của cụ Nguyễn Đình Thông được in thành sách khổ 14,5 x 20,5cm dày 920 trang, gồm ba quyển, 13.609 câu tục ngữ, thành ngữ, 1.307 bài ca dao và 423 câu đố (3). Trong bài giới thiệu Một công trình nghiên cứu văn học dân gian được khởi thảo cách đây ngót bảy mươi năm(báo Văn nghệgiữa thập kỉ 80 của thế kỉ XX), nhà nghiên cứu văn học Lữ Huy Nguyên coi bộ sưu tập này là “người anh em sinh đôi” với Tục ngữ phong daocủa Nguyễn Văn Ngọc, và nhận xét: “So với Tục ngữ phong daocủa ông Ngọc thì quyển của ông Thông có số lượng câu, bài gấp đôi”. (4)Đúng là như vậy. Với số lượng câu, bài phong phú, cấu trúc bộ sưu tập gồm ba quyển như sau :
-Quyển I: Các câu từ 3 tiếng trở lên (từ A đến Kh) : 300 trang.
-Quyển II: Các câu từ 3 tiếng trở lên (từ L đến X) : 300 trang.
-Quyển III: Các bài từ 4 câu trở lên (từ A đến Y): 312 trang.
Cũng giống như nhiều quyển sưu tầm, biên soạn tục ngữ, ca dao khác, bộ sưu tập của tác giả được sắp xếp theo vần chữ cái tiếng Việt, nghĩa là có cả những vần ă, â, ê, ô, ơ, ư, ch, gi, kh, ng, nh, ph, th, tr,theo số lượng tiếng trong mỗi câu từ ít đến nhiều. Chẳng hạn như ở vầnB,quyển I, có các câu:
- 3 tiếng: Bạc như vôi, Bùi như lạc, Bắt quả tang,...
- 4 tiếng: Ba cọc ba đồng, Ba mặt một nhời, Bắt cá hai tay,...
- 5 tiếng: Bán giời không văn tự, Béo như con cun cút, Bụt chùa nhà không thiêng,...
- 6 tiếng: Ba thưng cũng vào một đấu, Bập bẹ như trẻ học nói,...
- 7 tiếng: Ba chìm bảy nổi, chín lênh đênh; Buôn tàu không giàu bằng hà tiện,...
- 8 tiếng : Ba tháng trông cây, một ngày trông quả; Bắt lợn tóm giò, bắt bò tóm mũi,...
- 9 tiếng : Ba tháng mười ngày hết tuần chay gái đẻ,...
- 10 tiếng: Bán gà kiêng ngày gió, bán chó kiêng ngày mưa,...
- 11 tiếng: Bắt chấy cho mẹ chồng, trông thấy bồ nông dưới biển,...
- 12 tiếng: Bập bẹ như mẹ với con, lon xon như con với mẹ,...
- 13 tiếng: Bà chết thì khách đầy nhà, ông chết thì cỏ gà đầy sân,...
- 14 tiếng: Ba năm ở với người đần, Chẳng bằng một lúc đứng gần người khôn,...
- 15 tiếng: Bậu chê nước sông uống nước bầu, Chê đây lấy đấy lại giầu hơn ai,...
-16 tiếng: Buồn rầu buồn rĩ buồn nỉ buồn non, Buồn vì một nỗi sớm con muộn chồng!,...
- 17 tiếng: Ba tiền bỏ bị là chị lái buôn, Cơm trắng cá ngon cũng là anh đi ở,...
- 18 tiếng: Bố chồng như lông con phượng, Mẹ chồng là tượng mới tô, Nàng dâu là bồ nghe chửi!,...
- 19 tiếng: Buổi chợ đông con cá hồng anh chê nhạt, Buổi chợ tàn rồi con tép bạc cũng phải mua,...
- 20 tiếng: Băm bầu băm bí, Băm chị thằng Ngô, băm cô thuốc lào, Bán thuốc cho tao ba đồng một điếu,...
Ở một số vần khác, còn có cả những câu 22, 24, 25 tiếng. Cách sắp xếp của tác giả khá công phu và khoa học, dễ theo dõi và tiện tra cứu.
Trong quyển III, phổ biến là các bài 4 câu lục bát, nhưng cũng có nhiều bài dài trên 10 câu, trên hai mươi câu, thậm chí có bài dài đến 42 câu như bài hát đố (bài số 86, vần A, tr. 622-623), 36 câu như bài hát ru con (bài số 52, vần B, tr. 639-640), 38 câu như bài hát đối đáp nam nữ (bài số 5 vần Y, tr. 915-917),... Cũng có những bài, câu dài ngắn không đều, phối hợp nhiều thể thơ:
Bớ thảm ơi, bớ thiết ơi !
Bớ bạn tình nhân ơi !
Thân em như cái quả soài trên cây,
Gió Đông, gió Tây, gió Nam, gió Bắc,
Nó đánh lúc la lúc lắc trên cành,
Một mai vô tình rụng xuống, biết vào tay ai?
Kìa khóm trúc, nọ khóm mai, Ông Tơ, bà Nguyệt xe hoài chẳng thương,
Một lần chờ, bao lần đợi
Sớm lần chờ, chớ lần thương,
Anh thương em nhưng bác mẹ họ hàng chẳng thương.
(Lời 57, vần B, quyển III, tr. 641)
Các bài ca dao có mô thức mở đầu “ Trèo lên cây khế nửa ngày”, trong Kho tàng ca dao người Việt(tập 3) có 3 lời 328, 329, 330 (tr. 2201); trong cuốn sách này có 4 lời 30, 31, 36, 37 (tr. 894 - 895).
Trong 4 lời này, có một lời trùng với lời trùng với lời 330 của sách Kho tàng ca dao người Việt, còn lời sau đây có thể xem là những tư liệu sưu tầm mới:
Trèo lên cây khế giữa ngày,
Váy thì trụt mất, lưỡi cày thò ra;
Lưỡi cày ba góc chẻ ba,
Muốn đem đòn gánh mà tra lưỡi cày.
(Lời 30, vần Tr, quyển III, tr. 894)
Những điều ghi nhận bước đầu trên đây đã nói lên một điểm mạnh của cuốn sách: nó đã góp thêm một số tư liệu mới mẻ về các thể loại thành ngữ, tục ngữ, ca dao... để làm phong phú thêm kho tàng văn học dân gian ở nước ta. Đó là đóng góp có ý nghĩa của tác giả vào sự nghiệp sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian nói chung. Đúng như tác giả đã bày tỏ trong Lời nói đầu: “Việc sưu tầm này thật bao la, một người hay trong một thời cũng không thể ghi chép gọi là đầy đủ”, nhưng công lao của cụ thật rõ ràng, và 1000 trang sách cụ để lại cho đời đã nói lên tâm huyết của một con người dành gần hết cuộc đời của mình cho việc sưu tầm đó. Chỉ tiếc một điều là cuốn sách đã đưa vào hơi nhiều những câu thơ Kiềucủa Nguyễn Du, đành rằng có những câu thơ Kiềuđã được “dân gian hoá”, nhưng chỉ nên chọn lọc những câu tiêu biểu nhất như tác giả đã nêu trong Lời nói đầu:
-Đàn bà dễ có mấy tay
-Canh khuya thân gái dặm trường
-Ngày vui ngắn chẳng tày gang
Trong quyển sách này, tác giả đã đưa vào những đoạn thơ Kiềuquá dài, chưa đến mức “ca dao hoá” mà tiêu biểu là các đoạn thơ sau đây:
- Đoạn 10 câu từ “ Phím đàn dìu dặt tay tiên” đến “ Tiếng nào là chẳng não nùng xôn xao” (tr. 843).
- Đoạn 8 câu từ “ Buồn trông cửa bể chiều hôm” đến “ ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi” (tr. 642).
- Đoạn 6 câu từ “ Ngẫm hay muôn sự tại trời” đến “ Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai” (tr. 813).
Và có bài rất ít (hoặc không có) sắc thái ca dao cũng được ghi vào cuốn sách khiến người đọc không khỏi ngỡ ngàng phân vân:
Ô hay người cũ đây mà,
Nhớ nàng qua lối chàng đi tìm nàng;
Khóc duyên lệ ứa đôi hàng,
Ngàn thu câu chuyện lỡ làng còn ghi !
(Lời 1, vần Ô, quyển III, tr. 823)
Mặc dầu vậy, đọc xong 920 trang sách của bộ sưu tập này, chúng ta không chỉ trân trọng một tấm lòng yêu văn học dân gian, yêu tiếng nói dân tộc mà còn khâm phục công lao sưu tầm, biên soạn cần cù, bền bỉ gần như cả cuộc đời của một con người tâm huyết muốn góp phần lưu giữ lại cho đời những tinh hoa của dân tộc trong lĩnh vực văn hoá, văn nghệ dân gian. Con người đó đã bày tỏ một nguyện vọng thật khiêm nhường và cảm động: “ Để kết luận, tôi chân thành mong các bạn đính chính và bồi bổ những câu sai lầm hay thiếu sót để cho tiếng Việt Nam thuần tuý và quý giá của chúng ta càng ngày càng phong phú thêm vậy.” Chính điều ấy đã thôi thúc chúng tôi đọc công trình của cụ để viết ra bài giới thiệu với những ghi nhận đầu tiên còn sơ lược này. Xin được xem công việc làm nhỏ bé này của chúng tôi như thắp một nén hương tưởng nhớ đến vị tác giả đã quá cố.
Chú thích
1) Gồm 19 tập, do Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia giữ bản quyền, Nxb. Khoa học xã hội chủ trì, phối hợp với Viện Nghiên cứu Văn hoá dân gian tổ chức biên soạn trong 2 năm 2001-2002.
2) Người giữ gìn câu hát dân gian- Minh Văn (Cục Lưu trữ quốc gia), báo Nhân Dân chủ nhậtsố 1 (152) ra ngày 05/01/1992.
3) Phần Câu đốkhông in vào đây vì đã được Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội in năm 2000, với tựa đề Câu đố dân gian Việt Nam ,84 trang, do Nguyễn Xuân Lạc và Lê Trường Phát viết lời giới thiệu. Nếu tính cả phần Câu đốthì công trình này có độ dày là 1000 trang.
4) Tục ngữ phong dao(1928) của Nguyễn Văn Ngọc gồm hơn 6500 câu tục ngữ và hơn 650 câu ca dao.
Nguồn: hoidantochoc.org.vn (21/11/05)








