Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 10/04/2008 17:58 (GMT+7)

Một cái nhìn về con người Tây Nguyên

Song song với sự kiện đó hoàn toàn nói về người Mnông Gar, chúng tôi muốn giới thiệu những ảnh gốc nói về những nhóm tộc người khác trong vùng. Để làm công việc này chúng tôi có phông

ảnh lưu trữ tại kho ảnh của EFEO tại Paris . Tất nhiên còn có nhiều phông ảnh khác giữ tại các cơ sở khác của Pháp, cụ thể là Trung tâm lưu trữ Hải ngoại (CAOM-Aixen-Provence) hay bộ sưu tập của Bảo tàng Quai Branly (trước là Bảo tàng Con người), nhưng chọn trong phông ảnh của EFEO đối với chúng tôi có một ý nghĩa thực tế. Sự lựa chọn này cho phép chúng ta hiểu được công việc của các nhà nghiên cứu tại Viện cùng các thông tin viên và các cộng tác viên đã thực hiện cho đến khi EFEO rời khỏi Việt Nam năm 1957, tại một vùng nổi tiếng là đi lại khó khăn (theo G.Condominas là “khó nhất Đông Dương”) và không thần phục (vì vượt ra khỏi sự kiểm soát chính trị và kinh tế của chính quyền hoàng triều), trở thành những người nổi loạn khi thực dân Pháp xâm nhập.

Lễ đâm trâu ở vùng Người Mạ
Lễ đâm trâu ở vùng Người Mạ
Để nắm được một cách tương đối tầm quan trọng của những hình ảnh về Tây Nguyên, cần phải có một cái nhìn chung về bộ sưu tập ảnh của EFEO.

Bộ sưu tập này đáng chú ý ở tài liệu phong phú (khảo cổ học, kiến trúc, văn khắc, dân tộc học…) và sự đa dạng của những nước có liên quan (Campuchia, Việt Nam , Lào, Ấn Độ, Trung Quốc…). Gồm những ảnh chụp trong các cuộc khai quật và du khảo do Viện tổ chức, theo thời gian nó được bổ sung bằng những sưu tập gửi tặng (phông Dalet, Boulbet…); như vậy đã có gần 60.000 tài liệu ảnh in trên giấy và kính được lưu trữ, phục chế và số hóa tạo thuận lợi cho công chúng tham khảo.

Con số 8.500 ảnh về Việt Nam có vẻ khiêm tốn so với 30.000 ảnh dành cho Campuchia. Tình hình đó được giải thích dễ dàng vì phông ảnh do EFEO sưu tập xưa kia đã được trao lại phần lớn cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trẻ tuổi vào năm 1957 (khoảng 30.000 ảnh) trong nhà thư viện ảnh của Viện xưa, nay là Viện Thông tin Khoa học xã hội.

Trong phông ảnh này, chủ đề được đề cập nhiều nhất là những bằng chứng nói lên khía cạnh kỹ thuật của người nghiên cứu, như loạt ảnh 900 cái dành cho các phế tích Chăm và công việc trùng tu. Hình ảnh về các cuộc khai quật khảo cổ học ở Thanh Hóa cũng vậy, nó cho thấy rất chi tiết quá trình phát lộ các mộ cổ, những hiện vật được lấy lên và các phương pháp được vận dụng. Các nhà nghiên cứu cũng quan tâm đến việc phục hồi các khía cạnh khác nhau của văn hóa vật thể Việt Nam . Hàng trăm tấm ảnh cho ta thấy các đền, chùa hay nhà ở bình thưòng kết hợp với hình ghi lại cấu trúc và trang trí kiến trúc. Không thể mô tả sự phong phú của phông ảnh đó, chỉ kể đến những tấm không ảnh cho thấy Hà Nội, náu mình sau con đê, đối diện với dòng nước lũ sông Hồng. Tiếp đấy là ảnh trống đồng, công cụ đá mới và ký họa đình chùa. Người ta còn phát hiện những bằng chứng của cuộc sống thường ngày mà màu nâu của ảnh đem lại cho ta một không khí cổ xưa: hàng trăm ảnh chụp tranh dân gian, nhạc cụ cho đến đồ chơi của trẻ em thời xưa.

Con người và xã hội cũng được chú ý, chứng cứ là loạt ảnh phong

phú dành cho các tộc người miền núi phía Bắc hay ngư dân ven biển. Trang phục rực rỡ của người Hmông đã được ghi lại một cách chi tiết, cùng với những điệu múa của phụ nữ Phong Thổ hay cáchội hè dân gian và lễ nghi tôn giáo.

Quay lại vấn đề đặt ra lúc đầu, hãy xem xét vị trí của các tộc người và phong cảnh Tây Nguyên chiếm vị trí như thế nào trong phông Việt Nam ? Tôi chọn được 463 ảnh (ngoài phông Boulbet) nói về đề tài đó, trong đó có 310 ảnh, nghĩa là gần ba phần tư số ảnh, không có ghi chú hay ghi chép gì. Trong trường hợp này, thường là những ảnh chụp nhân vật hay ảnh bán thân đàn ông hay đàn bà chụp thẳng và chụp nghiêng, khiến ta nhớ lại một ngành học may mắn thay đã trở thành lỗi thời, đó là nhân chủng học thể chất, nhằm mô tả cơ thể con người với mục đích phân loại và sắp xếp theo các nhóm “mới lạ”. Ngoài một vài ảnh phong cảnh, 121 ảnh về chủ đề con người có chú thích. Nhưng thông tin cung cấp thường sơ lược: thiếu ngày tháng và tên người chụp, xác định địa điểm mơ hồ (Trung Kỳ, Pleiku), và mô tả nhân vật như thuộc loại hình “mọi”, tên gọi phân biệt áp dụng cho các nhóm tộc người trong vùng có nghĩa là “bán khai”. Chỉ có 46 ảnh gần đây nhất và phần lớn được chụp trong chuyến khảo sát của Pernard Lafont năm 1957, là có nói cụ thể ngươì được chụp thuộc tộc nào (Gia Rai, Ê Đê, Bih).

Nói cho cùng, sự không thuần nhất của bộ sưu tập 463 tấm ảnh và sự nghèo nàn của các thông tin, đã phản ánh khá trung thành vị trí ngoài lề của vùng Tây Nguyên trong quan niệm thuộc địa của Đông Dương nói chung, và mối quan tâm rất hạn chế của các nhà bác học Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp đối với các tộc “bản xứ” cho đến bước ngoặt của những năm 1920. Phải nói rằng, EFEO ra đời năm 1900 trong thời kỳ thống trị của thực dân, có nhiệm vụ đầu tiên là bảo tồn các di sản. Để làm việc đó, Viện phải hiểu biết rõ các dân tộc và phong tục của mảnh đất này. Trước sự đa dạng của vùng này, và trong gần 30 năm, trước tiên nhưng nền văn minh lớn đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu. Đối với các nhóm tộc người khác, môn học còn mới ở bước đầu và việc thiếu nhân sự đã cảm thấy rõ, chủ yếu là các nhà nghiên cứu nghiệp dư có đầu óc sáng suốt đã thực hiện những cuộc điều tra dân tộc học đầu tiên.

Khun Yo Nop, một tù trưởng nổi tiếng vùng Đăk Lăk những năm người Pháp mới đặt chân tới
Khun Yo Nop, một tù trưởng nổi tiếng vùng Đăk Lăk những năm người Pháp mới đặt chân tới
Say mê với chủ đề, với đất nước và với cư dân, hơn nữa còn là những nhà quan sát tốt, họ thuộc đủ mọi ngành, nhưng cùng chia sẻ đặc tính là làm việc với cư dân địa phương. Ta thấy trong số họcó các nhà cai trị thuộc địa Léopold Sabatier hay Prosper’Odend’ hal, bị người Gia Rai giết hại năm 1904, các nhà binh đóng đồn như Étienne-Edmond Lunet de la Jonquière hay Auguste Bonifacy, tác giảnhững bài viết xuất sắc về các tộc người vùng Cao Bằng, hay Alfred Lavallée, chủ sự bưu điện và Georges Dumoutier, giáo học. Những cộng tác viên khác của EFEO là linh mục thừa sai cũng để lại mộtkhối lượng công trình khoa học đáng kể: linh mục Kremlin với các nghiên cứu và cuốn từ điển về người Ba Na Rơngao và nhất là linh mục Léopold Cadière mà những công trình về tín ngưỡng, ngôn ngữ vàđời sống hằng ngày của người Việt đã được in lại nhiều lần.

Những năm đầu của thế kỷ XX được đánh dấu bằng một phương pháp kinh viện, đó là tìm hiểu, quan sát và mô tả. Chỉ sau khi thành lập ở Paris Bảo tàng Con người và Viện Dân tộc học do Marcel Mauss khởi xướng vào năm 1927 thì toàn bộ môn khoa học này mới đạt được mức độ hoàn chỉnh. Nằm trong EFEO, nó trở thành một vụ riêng biệt tập hợp ba lĩnh vực được coi là không thể tách rời là dân tộc học, ngôn ngữ học và tiền sử học. Paul Lévy là người chỉ đạo và đã tuyển dụng những người Việt Nam , chuyên gia về dân tộc học như Nguyễn Văn Huyên, tiếp theo là những gương mặt quen thuộc như Nguyễn Văn Khoan hay Trần Văn Giáp.

Theo chương trình hàng năm của các công trình dân tộc học, họ đã

Dệt vải
Dệt vải
cùng nhau lập bản đồ dân tộc - ngôn ngữ học đầu tiên của Đông Dương năm 1941, xuất bản các từ điển, thu thập một phông ảnh lớn, phác thảo việc xây dựng một bảo tàng dân tộc học Đông Dương vàlập các bộ sưu tập đồ dùng, trang phục, nhạc cụ và mô hình. Về sau mới xuất hiện các nhà nghiên cứu trẻ như Georges Condominas (1947), rồi nhà ngôn ngữ học Georges Haudricourt năm 1948, hay nhànghiên cứu tự học Jean Boulbet năm 1966.

Để kết luận, hãy nhấn mạnh rằng những tấm ảnh về cao nguyên miền Tây ngày nay mang một giá trị khoa học và giá trị tình cảm đặc biệt. Dù nó ghi lại trên phim ảnh cái nhìn sắc sảo của người thanh niên Giơ Rai hay cảnh xúc động của lễ đâm trâu ở vùng người Mạ, mỗi một hình ảnh đó đã nói lên kinh nghiệm không thể so sánh về tính khác biệt văn hóa và sự gặp gỡ với Cái Khác, và minh chứng một quá khứ tuy không xa nhưng hình như mãi mãi không trở lại.

Nguồn: Xưa và Nay, 300, 1/2008, tr 64

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.