Một cái nhìn về con người Tây Nguyên
Song song với sự kiện đó hoàn toàn nói về người Mnông Gar, chúng tôi muốn giới thiệu những ảnh gốc nói về những nhóm tộc người khác trong vùng. Để làm công việc này chúng tôi có phông
![]() |
| Lễ đâm trâu ở vùng Người Mạ |
Bộ sưu tập này đáng chú ý ở tài liệu phong phú (khảo cổ học, kiến trúc, văn khắc, dân tộc học…) và sự đa dạng của những nước có liên quan (Campuchia, Việt Nam , Lào, Ấn Độ, Trung Quốc…). Gồm những ảnh chụp trong các cuộc khai quật và du khảo do Viện tổ chức, theo thời gian nó được bổ sung bằng những sưu tập gửi tặng (phông Dalet, Boulbet…); như vậy đã có gần 60.000 tài liệu ảnh in trên giấy và kính được lưu trữ, phục chế và số hóa tạo thuận lợi cho công chúng tham khảo.
Con số 8.500 ảnh về Việt Nam có vẻ khiêm tốn so với 30.000 ảnh dành cho Campuchia. Tình hình đó được giải thích dễ dàng vì phông ảnh do EFEO sưu tập xưa kia đã được trao lại phần lớn cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trẻ tuổi vào năm 1957 (khoảng 30.000 ảnh) trong nhà thư viện ảnh của Viện xưa, nay là Viện Thông tin Khoa học xã hội.
Trong phông ảnh này, chủ đề được đề cập nhiều nhất là những bằng chứng nói lên khía cạnh kỹ thuật của người nghiên cứu, như loạt ảnh 900 cái dành cho các phế tích Chăm và công việc trùng tu. Hình ảnh về các cuộc khai quật khảo cổ học ở Thanh Hóa cũng vậy, nó cho thấy rất chi tiết quá trình phát lộ các mộ cổ, những hiện vật được lấy lên và các phương pháp được vận dụng. Các nhà nghiên cứu cũng quan tâm đến việc phục hồi các khía cạnh khác nhau của văn hóa vật thể Việt Nam . Hàng trăm tấm ảnh cho ta thấy các đền, chùa hay nhà ở bình thưòng kết hợp với hình ghi lại cấu trúc và trang trí kiến trúc. Không thể mô tả sự phong phú của phông ảnh đó, chỉ kể đến những tấm không ảnh cho thấy Hà Nội, náu mình sau con đê, đối diện với dòng nước lũ sông Hồng. Tiếp đấy là ảnh trống đồng, công cụ đá mới và ký họa đình chùa. Người ta còn phát hiện những bằng chứng của cuộc sống thường ngày mà màu nâu của ảnh đem lại cho ta một không khí cổ xưa: hàng trăm ảnh chụp tranh dân gian, nhạc cụ cho đến đồ chơi của trẻ em thời xưa.
Con người và xã hội cũng được chú ý, chứng cứ là loạt ảnh phong
![]() |
Quay lại vấn đề đặt ra lúc đầu, hãy xem xét vị trí của các tộc người và phong cảnh Tây Nguyên chiếm vị trí như thế nào trong phông Việt Nam ? Tôi chọn được 463 ảnh (ngoài phông Boulbet) nói về đề tài đó, trong đó có 310 ảnh, nghĩa là gần ba phần tư số ảnh, không có ghi chú hay ghi chép gì. Trong trường hợp này, thường là những ảnh chụp nhân vật hay ảnh bán thân đàn ông hay đàn bà chụp thẳng và chụp nghiêng, khiến ta nhớ lại một ngành học may mắn thay đã trở thành lỗi thời, đó là nhân chủng học thể chất, nhằm mô tả cơ thể con người với mục đích phân loại và sắp xếp theo các nhóm “mới lạ”. Ngoài một vài ảnh phong cảnh, 121 ảnh về chủ đề con người có chú thích. Nhưng thông tin cung cấp thường sơ lược: thiếu ngày tháng và tên người chụp, xác định địa điểm mơ hồ (Trung Kỳ, Pleiku), và mô tả nhân vật như thuộc loại hình “mọi”, tên gọi phân biệt áp dụng cho các nhóm tộc người trong vùng có nghĩa là “bán khai”. Chỉ có 46 ảnh gần đây nhất và phần lớn được chụp trong chuyến khảo sát của Pernard Lafont năm 1957, là có nói cụ thể ngươì được chụp thuộc tộc nào (Gia Rai, Ê Đê, Bih).
Nói cho cùng, sự không thuần nhất của bộ sưu tập 463 tấm ảnh và sự nghèo nàn của các thông tin, đã phản ánh khá trung thành vị trí ngoài lề của vùng Tây Nguyên trong quan niệm thuộc địa của Đông Dương nói chung, và mối quan tâm rất hạn chế của các nhà bác học Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp đối với các tộc “bản xứ” cho đến bước ngoặt của những năm 1920. Phải nói rằng, EFEO ra đời năm 1900 trong thời kỳ thống trị của thực dân, có nhiệm vụ đầu tiên là bảo tồn các di sản. Để làm việc đó, Viện phải hiểu biết rõ các dân tộc và phong tục của mảnh đất này. Trước sự đa dạng của vùng này, và trong gần 30 năm, trước tiên nhưng nền văn minh lớn đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu. Đối với các nhóm tộc người khác, môn học còn mới ở bước đầu và việc thiếu nhân sự đã cảm thấy rõ, chủ yếu là các nhà nghiên cứu nghiệp dư có đầu óc sáng suốt đã thực hiện những cuộc điều tra dân tộc học đầu tiên.
![]() |
| Khun Yo Nop, một tù trưởng nổi tiếng vùng Đăk Lăk những năm người Pháp mới đặt chân tới |
Những năm đầu của thế kỷ XX được đánh dấu bằng một phương pháp kinh viện, đó là tìm hiểu, quan sát và mô tả. Chỉ sau khi thành lập ở Paris Bảo tàng Con người và Viện Dân tộc học do Marcel Mauss khởi xướng vào năm 1927 thì toàn bộ môn khoa học này mới đạt được mức độ hoàn chỉnh. Nằm trong EFEO, nó trở thành một vụ riêng biệt tập hợp ba lĩnh vực được coi là không thể tách rời là dân tộc học, ngôn ngữ học và tiền sử học. Paul Lévy là người chỉ đạo và đã tuyển dụng những người Việt Nam , chuyên gia về dân tộc học như Nguyễn Văn Huyên, tiếp theo là những gương mặt quen thuộc như Nguyễn Văn Khoan hay Trần Văn Giáp.
Theo chương trình hàng năm của các công trình dân tộc học, họ đã
![]() |
| Dệt vải |
Để kết luận, hãy nhấn mạnh rằng những tấm ảnh về cao nguyên miền Tây ngày nay mang một giá trị khoa học và giá trị tình cảm đặc biệt. Dù nó ghi lại trên phim ảnh cái nhìn sắc sảo của người thanh niên Giơ Rai hay cảnh xúc động của lễ đâm trâu ở vùng người Mạ, mỗi một hình ảnh đó đã nói lên kinh nghiệm không thể so sánh về tính khác biệt văn hóa và sự gặp gỡ với Cái Khác, và minh chứng một quá khứ tuy không xa nhưng hình như mãi mãi không trở lại.
Nguồn: Xưa và Nay, 300, 1/2008, tr 64
ảnh lưu trữ tại kho ảnh của EFEO tại Paris . Tất nhiên còn có nhiều phông ảnh khác giữ tại các cơ sở khác của Pháp, cụ thể là Trung tâm lưu trữ Hải ngoại (CAOM-Aixen-Provence) hay bộ sưu tập của Bảo tàng Quai Branly (trước là Bảo tàng Con người), nhưng chọn trong phông ảnh của EFEO đối với chúng tôi có một ý nghĩa thực tế. Sự lựa chọn này cho phép chúng ta hiểu được công việc của các nhà nghiên cứu tại Viện cùng các thông tin viên và các cộng tác viên đã thực hiện cho đến khi EFEO rời khỏi Việt Nam năm 1957, tại một vùng nổi tiếng là đi lại khó khăn (theo G.Condominas là “khó nhất Đông Dương”) và không thần phục (vì vượt ra khỏi sự kiểm soát chính trị và kinh tế của chính quyền hoàng triều), trở thành những người nổi loạn khi thực dân Pháp xâm nhập.










