Một cái nhìn sơ bộ về nghiên cứu Toán học của nước ta (tiếp)
4. Đội ngũ mới
Đội ngũ mới, tức là những người bắt đầu có công bố. Phần lớn trong số họ là những nghiên cứu sinh mới. Một số ít là công trình của sinh viên hoặc học sinh cao học (thường là đồng tác giả), và có thể có một số ít trong số này sau đó không hề làm nghiên cứu sinh. Để thống kê những con số này, tôi liệt kê những tác giả có công trình công bố trong năm đó, nhưng trước đó là 0.
Thống kê trên có lẽ chưa phản ánh chính xác số lượng nghiên cứu sinh mới hàng năm. Con số trong các năm 1990 – 1998 khá ít phản ánh thời kì nhiều người quay lưng lại với Toán học trong lúc nền kinh tế đất nước chuyển sang cơ chế thị trường. Trước năm 89, con số thực có lẽ cao hơn, nhưng vì không tìm ra vết của họ, nên không thể thống kê được. Nhưng sự sai lệch có lẽ không nhiều, nếu ta nhớ lại số chỉ tiêu cử đi nghiên cứu sinh nước ngoài về Toán những năm đó. Thời đó, việc được đi làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài không chỉ có điều kiện học tập nghiên cứu tốt hơn, mà còn là sự “đổi đời” về kinh tế. Vì vậy, mặc dù chúng ta bắt đầu đào tạo tiến sĩ Toán trong nước từ năm 1978, nhưng không có nhiều người tham gia.
Mặt khác theo trực quan thì trong 7-8 năm gần đây số lượng nghiên cứu sinh về Toán ở các cơ sở đào tạo đều giảm. Trong khi con số ở Bảng 6 lại tăng lên. Có thể lí giải cho nghịch lí này là một hiện tượng mới khá phấn khởi: Đó là ngày càng có nhiều sinh viên, học viên cao học tham gia nghiên cứu Toán. Nó cũng minh chứng cho khả năng hướng dẫn nghiên cứu của các nhà toán học đầu đàn trong nước tăng lên. Với thiên hướng số người bắt đầu tham gia nghiên cứu Toán ngày càng tăng, nếu chúng ta có chính sách khuyến khích đúng, sẽ có cơ hội gia tăng đáng kể đội ngũ các nhà toán học của nước ta. Vấn đề là chúng ta không nên bỏ lỡ mất cơ hội này.
5. Phân bố địa lí
Để có thể phân loại được trong số 4907 công trình được thống kê nêu trên, công trình nào được thực hiện ở trường/viện nào là một điều hết sức phức tạp. Có tác giả lúc ở trường này, sau lại chuyển trường khác, … Vì vậy chúng ta đành phải chấp nhận chỉ tính những công trình ở MSN mà trong mã cơ quan (Institution Code) có đầu VN. Với cách tính này thì dĩ nhiên những bài mà tác giả Việt Namthực hiện khi đi công tác nước ngoài mà không đề tên cơ quan ở Việt Nam tất nhiên sẽ không được thống kê [6] . Tuy nhiên, tôi cũng biết chắc chắn là MSN đã bỏ sót một số công trình. Chẳng hạn có bài đăng ở tạp chí Acta Mathematica Vietnamica và hoàn toàn do tác giả Việt Nam thực hiện, nhưng lại không xuất hiện trong thống kê các bài có mã cơ quan là VN-*. Tất nhiên con số này rất ít, nên thống kê phân bố địa lí ở Bảng 7 theo tôi cũng phản ánh khá chính xác tương quan đóng góp của các cơ sở Toán học nước ta.
Như vậy chỉ có 54% số công trình có tác giả Việt Nam thực hiện có địa chỉ trong nước. Việc tìm ra cho đủ số bài báo của tác giả Việt Nam trong một khoảng thời gian nhất định là không dễ tý nào. Qua đó chúng ta cũng có thể phần nào hiểu được tại sao có sự sai lệch lớn trong các thống kê khác nhau về đóng góp của các nhà khoa học Việt Nam trên các thông tin đại chúng. Dù còn nhiều sai sót, qua Bảng 7 chúng ta cũng có thể thấy được tương quan nghiên cứu Toán giữa các cơ quan.
Trước hết đó là vai trò đầu tầu của Viện Toán học trong nghiên cứu Toán học của nước ta. Nó chiếm tới hơn 57% số công trình. Điều đó nói lên tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước ta khi quyết định thành lập Viện nghiên cứu Toán trong khi đất nước còn bị chiến tranh. Suốt gần 40 năm tồn tại và phát triển, ngoài việc góp phần rất lớn vào thành tích nghiên cứu Toán ở Việt Nam, Viện Toán học đã đào tạo ra nhiều nhà toán học hàng đầu của Việt Nam, đồng thời cũng đào tạo nhiều nhà toán học cho các trường đại học. Tuy nhiên vì là một cơ quan có cơ cấu nhân sự tương đối ổn định và độc lập, sự tương tác giữa Viện và các trường đại học chưa sâu rộng. Do đó tác động của Viện trong việc nâng cao năng lực nghiên cứu của các trường là chưa nhiều.
Bảng 7: Số lượng công trình chia theo các cơ quan
TT | Tên cơ quan | Số công trình | Các mã truy cập [7] |
Tổng số | 2666 | VN-* | |
1 | Viện Toán học | 1527 | VN-HMI |
2 | ĐHQG Hà Nội | 348 | VN-HU* , VN-VNU* [8] |
3 | Viện CN thông tin (Viện KH&CNVN) | 185 | VN-ICC, VN-IT*, VN-DMI |
4 | ĐHQG Tp Hồ Chí Minh | 164 | VN-HCMC* |
5 | Đại học Huế | 149 | VN-HUE* |
6 | ĐHSP Hà Nội1 | 112 | VN-PEDI, VN-PEDI, VNU-PD |
7 | ĐHBK Hà Nội | 58 | VN-HPOLY*, VN-HUT* |
8 | Viện Cơ học | 52 | VN-HMC |
9 | Đại học Vinh | 32 | VN-PDVI |
10 | ĐHSP Hà Nội2 | 21 | VN-PEDI2* |
11 | Viện Vật lí | 15 | VN-HIP, VN-CTP* |
12 | Các cơ quan khác | 19 | VN-ASA, VN-DANP, VN-GEMI, VN-HMG, VN-TNU |
đáng kể về mặt nghiên cứu Toán học. Điều này rõ ràng gây khó khăn không nhỏ cho sự phát triển của Toán học Việt Nam , cũng như đảm bảo trình độ Toán học tối thiểu trong đào tạo của các trường đại học và cao đẳng.
6. Đôi điều kết luận
So với các nước đang phát triển, nền Toán học của ta vào loại khá. Đây là một niềm tự hào chính đáng, và không dễ đạt được. Nhưng điều này đã được nêu trong nhiều nhận định của cộng đồng Toán học, nên tôi xin phép chủ yếu đi vào mặt trái ngược. Đó là: Nếu so với cộng đồng Toán học Thế giới nói chung, qua phân tích sơ bộ ở trên từ khía cạnh số lượng thôi, chúng ta cũng có thể khẳng định: Toán học Việt Nam ta còn chiếm vị trí khá khiêm tốn. Vị trí cảm nhận khoảng thứ 50-70 là hoàn toàn sát thực[9]. Theo tôi có một số nguyên nhân để lí giải cho sự yếu kém của Toán học nước ta. Nguyên nhân của mọi nguyên nhân là thu nhập quá thấp của giảng viên đại học và cán bộ nghiên cứu. Song đó là nguyên nhân chung không chỉ cho phát triển khoa học, mà còn cho nhiều ngành nghề khác, nên ở đây tôi chỉ bàn tới những nguyên nhân khác – những nguyên nhân đặc thù và có thể khắc phục được ngay.
- Thứ nhất đó là sự non trẻ của Toán học Việt Nam .Mới ra đời từ sau Cách mạng Tháng Tám, mà chủ yếu là sau khi hòa bình lập lại ở Miền Bắc, trong một khoảng thời gian chưa dài như vậy, từ chỗ có thể nói là con số 0, chúng ta đã có được một đội ngũ gần 1000 nhà toán học, trong đó có không ít người có uy tín quốc tế. Toán học đã trở thành một trong những ngành khoa học phát triển nhất ở nước ta và được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Đó là một điều đáng tự hào! Tuy nhiên, việc phát triển Toán học không thể nóng vội, đốt cháy giai đoạn, không thể nhập khẩu được. Nó đòi hỏi phải có thời gian, phải dựa trên trí tuệ con người Việt Nam và chính sách đúng đắn của Nhà nước. Đây không phải là sự biện minh cho sự yếu kém của Toán học nước ta. Ngược lại, lí do này càng cho thấy nếu chúng ta không nỗ lực liên tục, để cho nền Toán học non trẻ mới được dày công xây dựng đi ngang hoặc thậm chí bị xuống dốc, thì chẳng có cơ may nào có được một nền Toán học đáp ứng được nhu cầu của đất nước, cho dù là trong tương lai xa.
- Thứ hai, một thời gian dài, chúng ta chưa nhận thức đúng về tầm quan trọng của nghiên cứu Toán học đối với công tác đào tạo.Vì vậy chưa gắn kết nhiệm vụ nghiên cứu với công việc của người dạy Toán ở các trường đại học, cao đẳng. Giảng viên Toán không cần phải nghiên cứu cũng được xem là hoàn thành nhiệm vụ, nếu dạy đủ giờ. Những người có khả năng, mà tuần dạy tới 12-20 tiết, thậm chí hơn, thì làm sao còn nghiên cứu được? Điều này cũng thể hiện rõ ở quan niệm giảng viên Toán không cần có bằng Tiến sĩ Toán học. Dĩ nhiên quan điểm này xuất phát từ nguồn nhân lực hạn chế trước đây, nhưng dần dần nó trở thành quan niệm phổ biến đến mức ít ai thấy được sự bất cập của nó trong việc lập mới trường đại học cũng như củng cố các trường đại học đã có. Một khi chưa có trình độ tiến sĩ, làm sao chúng ta có thể yêu cầu cán bộ giảng dạy nghiên cứu? Bởi vậy phần lớn các công bố Toán học ở các tạp chí trường trong nước của chúng ta không thể được xem là công trình Toán học. Yêu cầu giảng viên đại học phải nghiên cứu cứu trước hết phải bắt đầu từ khâu đầu vào là vì lí do này.
- Chính sách đào tạo cán bộ Toán chưa đủ. Ngay trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, hay thời kì khó khăn của đất nước, Nhà nước ta đã cử nhiều người đi học đại học hoặc làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài, trong đó có Toán. Sang thời kì Đổi mới, xuất hiện một quan niệm cho rằng ta đầu tư quá nhiều về Toán, và do đó đã không còn chú ý, thậm chí sao nhãng khuyến khích phát triển Toán. Gần đây, thông qua Đề án 322, cũng như nhiều chương trình, học bổng khác, chúng ta đang lại tiếp tục cử sinh viên ra nước ngoài đào tạo về Toán. Tuy nhiên, số lượng còn ít và chưa có hệ thống. Đặc biệt chưa có biện pháp đào tạo đặc biệt trong nước những sinh viên giỏi. Chương trình cử nhân tài năng hoặc chương trình tiên tiến hiện nay là một thử nghiệm, nhưng theo chúng tôi chưa đáp ứng nhu cầu đào tạo các nhà toán xuất sắc cho tương lai.
- Chưa có chính sách đào tạo chuyên gia.Hầu như Nhà nước chưa có chính sách để tiếp tục đào tạo các nhà khoa học trẻ thành các nhà khoa học đầu đàn, chưa có chính sách để nâng cao hơn nữa trình độ của các nhà khoa học đã thành danh để qua đó khai thác triệt để năng lực và cống hiến của họ.
Để đạt được những kết quả có ý nghĩa, công tác nghiên cứu khoa học luôn phải được duy trì ở mức độ cao. Muốn vậy, ngoài việc khắc phục khó khăn của cuộc sống hàng ngày để tiến hành nghiên cứu, thì mỗi người làm Toán giỏi phải có điều kiện được thường xuyên tới làm việc ở các trung tâm Toán học trên thế giới.Tại đó họ không những có điều kiện làm việc tốt hơn, có điều kiện tìm kiếm được tài liệu trong nước họ không thể tìm ra. Tại những nơi đó họ còn có điều kiện trao đổi với các đồng nghiệp quốc tế, để qua đó xác định được những vấn đề thời sự để nghiên cứu.
Trước năm 1980, khi quan hệ của chúng ta với các nước phương Tây còn hạn hẹp, hầu hết người làm Toán sau khi làm xong (phó) tiến sĩ ở nước ngoài trở về thì không còn điều kiện trở lại nước ngoài nữa. Vì vậy việc nghiên cứu của họ cũng gần như bị chấm dứt. Thống kê ở Bảng 2 và 4 đã chỉ rõ. Sau năm 1980, nhiều cán bộ nghiên cứu, đặc biệt là cán bộ nghiên cứu trẻ, nhận được những tài trợ nghiên cứu có giá trị của các cơ quan, tổ chức khoa học của các nước phương Tây để đến làm việc tại nhiều trung tâm Toán học xuất sắc. Sau những lần công tác như vậy, năng lực và trình độ nghiên cứu của họ được nâng lên một tầm cao mới. Và điều quan trọng nữa là rất nhiều người trong số họ đã tạo lập được mối quan hệ cộng tác khoa học cá nhân, để sau đó duy trì được việc thường xuyên đi trao đổi khoa học. Mười lăm năm cuối, hầu hết các nhà Toán học giỏi của Việt Nam (bao gồm tất cả những người trong nhóm 5 ở Bảng 2) đã tìm được cách để đi làm việc ở nước ngoài với mức bình quân ước tính khoảng mỗi người mỗi năm 2 tháng. Rất mừng là điều này thực hiện được bằng nỗ lực cá nhân của từng cán bộ nghiên cứu. Mừng vì nó chứng tỏ sự năng động của mỗi cá nhân. Mừng vì điều đó cũng gián tiếp công nhận trình độ, năng lực của họ.
Tuy nhiên phải thấy rằng Nhà nước ta chưa có một chính sách nào để cử cán bộ khoa học đầu ngành được thường xuyên đi trao đổi khoa học ở nước ngoài. Không có một quốc sách như vậy thì khó lòng mà có được nhiều nhà khoa học xuất sắc, những đầu tàu để dẫn dắt khoa học nước nhà tiến bước.Việc nâng cao năng lực nghiên cứu của cán bộ đầu ngành ở nước ta chỉ mới dừng lại ở mức độ tự phát, chứ chưa phải là cách làm công nghiệp. Nó cũng giống như việc trồng cây lưu niên, bỏ tiền ra để nhập giống tốt và vun bón cho cây lớn lên, nhưng đến khi chuẩn bị ăn quả, hoặc cùng lắm mới thu hoạch một vài vụ đã bỏ bẵng, không chăm sóc nữa. Nhưng với cây thì chỉ mất một cái cây đó, còn đối với người khoa học thì rất có thể ta đánh mất một người đầu đàn.
Chưa có những trung tâm nghiên cứu toán học nhằm duy trì và nâng cao khả năng nghiên cứu Toán học.Với việc cử đi làm việc ở nước ngoài đắt đỏ, chỉ có thể dành cho một số ít người với thời gian hạn chế, thì việc có được những trung tâm nghiên cứu Toán học sẽ tạo điều kiện tốt không chỉ cho nhiều tiến sĩ trẻ mà còn cả những người có trình độ có được thời gian và điều kiện vật chất nhất định để nghiên cứu Toán. Đây là hình thức phát triển ở nhiều nước. Giảng viên đại học định kì 3-5 năm lại có một học kì hoặc một năm nghỉ để làm khoa học (sabastical year). Viện Toán học với nhiệm vụ và tổ chức hiện nay không thể đáp ứng được đòi hỏi đó. Chú ý rằng đây là một cách làm có hiệu quả kinh tế cao (vì tập trung được nguồn lực), nhiều người hưởng, chứ không phải là một thứ xa xỉ cho số ít người như một số người nghĩ.
- Chưa nhận thức đầy đủ về việc cần thiết đẩy mạnh đào tạo tiếp đội ngũ Toán học và những khó khăn trong việc đó.Thậm chí đã có không ít dư luận cho rằng Toán học lý thuyết là thừa đối với nước ta, hoặc Toán học của ta đã đủ mạnh, cần dành cho các ngành khác. Mặt khác, những người thực sự theo đuổi nghề Toán sẽ cần nhiều thời gian đào tạo hơn rất nhiều so với các ngành khác (như công nghệ thông tin, kĩ sư, …) để rồi sống ổn định được bằng nghề của mình (kể cả dạy thêm!). Do vậy cộng với việc thiếu vắng những chính sách cụ thể khuyến khích phát triển Toán học, xu hướng sinh viên giỏi xa rời Toán học đã xảy ra và không biết bao giờ mới hạn chế được. Đây cũng là một hiện tượng ở các nước tiên tiến, nhưng ở đó số sinh viên giỏi nhiều hơn hẳn ở nước ta.
Dĩ nhiên những đánh giá và kết luận nêu trong bài này là hoàn toàn mang tính chủ quan. Chắc chắn sẽ có nhiều ý kiến không đồng tình. Tựu chung lại, tôi chỉ muốn nêu một số số liệu để cộng đồng Toán học chúng ta biết và qua đó cùng nhau tìm cách đưa nền Toán học chúng ta tiến nhanh hơn.








