Môi trường và sức khoẻ
Nguyên nhân là do môi trường ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng, dẫn đến hàng loạt bệnh môi trường, ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ con người, khiến cho tuổi thọ của nhiều người bị rút ngắn, có người thậm chí còn rất trẻ đã chết.
Mấy năm gần đây khi nghiên cứu bệnh tim và bệnh xuất huyết não, người ta không ngừng phát hiện ra nhiều bệnh trước đây không rõ nguyên nhân nhưng thực ra không phải do vi khuẩn mà là do môi trường sống bị ô nhiễm gây nên. Các nhà khoa học thông qua các phương pháp phân tích, đã đo một cách chính xác các nguyên tố hoá học trong cơ thể, từ đó phát hiện được nhiều nguyên tố trong cơ thể có hàm lượng bình quân giống với hàm lượng các nguyên tố đo trong đất. Họ còn đo được độ phong phú của các nguyên tố tương ứng trong máu của người. Điều này chứng tỏ sức khoẻ con người có liên quan chặt chẽ với môi trường địa lý nơi mà họ sinh sống.
Các vật sống, khi nó đang tồn tại, một mặt không ngừng hấp thu các chất dinh dưỡng từ môi trường bên ngoài, mặt khác luôn đào thải các chất ra môi trường, con người cũng không ngoại lệ. Đồng thời với việc hấp thu và đào thải, giữa con người và môi trường đã hình thành sự cân bằng động về trao đổi chất. Thông qua một thời gian dài về tiến hoá, di truyền và biến dị, loài người đã thích ứng với môi trường tự nhiên mà mình sinh sống. Trong điều kiện bên ngoài không có gì biến đổi lớn thì quá trình trao đổi chất giữa con người và môi trường luôn ở trạng thái cân bằng. Nhưng khi môi trường phát sinh biến đổi đột biến thì sự cân bằng bình thường này sẽ bị phá hoại, lúc đó cơ thể không thích ứng được nữa.
Ngày nay môi trường mà con người sinh sống đang phát sinh biến đổi to lớn, môi trường đã bị ô nhiễm nghiêm trọng. Hoạt động sản xuất và đời sống của con người đã sản sinh ra một lượng chất ô nhiễm rất lớn, nó bị đào thải vào môi trường, phá hoại trạng thái bình thường của môi trường, từ đó mà rất có hại cho cơ thể. Nhiều chất ô nhiễm như thủy ngân, cadimi, asen, cyanua, phenol, benzen, nhiều vòng flo, thuốc bảo vệ thực vật…đã làm ô nhiễm bầu không khí, nước, đất đai xung quanh chúng ta, thông qua chuỗi xích thức ăn mà xâm nhập vào cơ thể con người, tác hại rất lớn đến sức khoẻ con người. Vì vậy có thể thấy môi trường có vài trò vô cùng quan trọng đối với sức khoẻ và tuổi thọ của con người.
Môi trường lao động ở các cơ sở sản xuất của nhiều ngành công nghiệp hiện nay không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh môi trường, an toàn lao động, làm giảm chất lượng sản phẩm, giảm hiệu suất lao động và gây ra các bệnh nghề nghiệp, nhất là trong các cơ sở sản xuất cũ của ngành công nghiệp hóa chất, luyện kim, vật liệu xây dựng, dệt nhuộm và khai thác khoáng sản. Ô nhiễm bụi là chủ yếu, tiếp theo là ô nhiễm các khí độc hại, nhiệt độ và độ ẩm cao, thiếu ánh sáng và tiếng ồn lớn.
Các số liệu điều tra, kiểm định của Viện Bảo hộ lao động, Viện Y học lao động và Trung tâm Y tế - Môi trường lao động trong 5 năm qua cho thấy:
Nồng độ bụi ở một số nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) từ 20 - 435 lần (nhà máy Gạch chịu lửa Cầu Đuống, các nhà máy xi măng lò đứng…). Tại các nhà máy luyện kim (cán thép VICASA, SADAKIM, Gia SÀng…) nồng độ bụi vượt TCCP từ 5 - 125 lần. Tại các cơ sở khai thác và chế biến khoáng sản như than, đá, apatit, cao lanh,…nồng độ bụi vượt trị số TCCP trung bình khoảng 170 lần. Tại các nhà máy cơ khí, đóng tàu,…nồng độ bụi vượt TCCP từ 10 - 15 lần, đặc biệt tại các phân xưởng đúc của Nhà máy Bơm Hải Dương vượt TCCP từ 4 -22 lần (cá biệt tới 140 lần) với tỷ lệ SiO 2khá cao, từ 24 - 36%. Ở các nhà máy dệt, may như Dệt 8/3, Dệt Hà Nội, Dệt Nam Định, Dệt Việt Thắng… do ô nhiễm bụi trong môi trường lao động cao như vậy nên số công nhân bị bệnh phổi silic ở một số ngành có lúc tăng lên rất cao: 39,9% ở ngành vật liệu chịu lửa; 28,8% ở cơ sở xay khoáng sản; 27,7% ở ngành khai thác đá; 25,5% ở ngành đúc kim loại; 24,8% ở ngành luyện kim và 12,3% ở ngành khai thác than.
Khảo sát 275 xí nghiệp sản xuất công nghiệp trong các ngành hóa chất, phân bón, cơ khí, luyện kim và sản xuất vật liệu xây dựng cho thấy 23% số cơ sở đã khảo sát có nồng độ các khí độc hại (CO, SO 2, NO 2và Cl 2) cao hơn các trị số TCCP từ 1,5 - 50 lần.
Mức ồn ở các phân xưởng rèn, dập của các nhà máy cơ khí đạt tới 107 - 116 dBA vàôơr các nhà máy dệt mức ồn đạt tới 98-106 dBA, chúng đều vượt trị số TCCP (TCCP = dBA). Vì vậy, kết quả khảo sát ở 11 cơ sở công nghiệp có mức ồn lớn hơn TCCP cho thấy tỷ lệ công nhân bị điếc nghề nghiệp lên tới 11%.
Về mùa hè, môi trường lao động ở rất nhiều xí nghiệp thường bị ô nhiễm nhiệt. Chênh lệch nhiệt độ trong nhà ở các phân xưởng nóng lên tới 5 -6 0C, ở các phân xưởng nguội cũng tới 2 - 3 0C.
Tuy vậy, trong thời gian qua rất nhiều cơ sở sản xuất, công nghiệp đã đầu tư cải tạo nhà xưởng, đổi mới thiết bị, nên ô nhiễm môi trường lao động ngày càng giảm.
Theo số liệu điều tra ở Hà Nội các năm gần đây cho thấy rằng, môi trường lao động công nghiệp ngày càng được cải thiện. Tỷ ọê phân xưởng bị ô nhiễm trong gần 200 phân xưởng đã điều tra qua các năm ngày càng giảm.
Kết quả kiểm tra cho thấy:
Về khí hậu: Các mẫu đo không khí đạt tiêu chuẩn vệ sinh (TCVS) chủ yếu về nhiệt độ từ 44,5% - 86% (Tổng công ty Sành sứ, thuỷ tinh chiếm 86%, ngành điện chiếm 71%, ngành nhựa 68,9%, ngành thép 67%); về tốc độ gió từ 9,9% - 58,3% (ngành nhựa 58,3%).
Về ô nhiễm bụi: Tỷ lệ các mẫu đo chưa đạt TCVS từ 0% - 78%, đặc biệt là Tổng công ty Nhựa, số mẫu không đạt chiếm 78%.
Về ô nhiễm tiếng ồn: Tỷ lệ phần trăm số mẫu không đạt TCVS từ 4,3% - 54% (ngành thép 54%; ngành hóa chất 47%).
Về ô nhiễm khí độc hại: Tỷ lệ phần trăm không đạt TCVS từ 0% - 8%. Đặc biệt là ngành hóa chất năm qua đã có nhiều biện pháp tích cực cải thiện điều kiện và môi trường lao động nên tỷ lệ khí độc hại vượt TCVS giảm xuống chỉ còn 2,7% với 520 điểm đo.
Các ngành da giầy và giấy có số mẫu khí độc hại vượt TCVS nhiều nhất.
Môi trường là nguồn tài nguyên, vì vậy cần được cần được khai thác hợp lý, tránh lạm dụng và lãng phí. Bảo vệ môi trường chính là sự lợi dụng tốt nhất nguồn tài nguyên chung của con người.
Ngày nay trên thế giới đang dấy lên "làn sóng xanh". Danh từ "xanh" mọc ra khắp nơi như măng mọc sau cơn mưa xuân. Trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật cũng đã xuất hiện một danh từ mới "kỹ thuật xanh".
"Kỹ thuật xanh" là cách nói hình tượng, thực chất là chỉ những kỹ thuật khoa học có thể thúc đẩy loài người tồn tại và phát triển lâu dài, có lợi cho sự tồn tại và phát triển giữa con người và thiên nhiên. Nó không những bao gồm phần cứng, như các thiết bị hạn chế ô nhiễm, các máy đo sinh thái và kỹ thuật sản xuất sạch mà còn bao gồm cả phần mềm, như phương thức thao tác cụ thể và phương thức vận chuyển tiêu thụ, cũng như những công tác và hoạt động để bảo vệ môi trường.
Căn cứ vào các "kỹ thuật xanh" có tác dụng khác nhau đối với môi trường mà có thể chia thành: kỹ thuật xử lý đoạn cuối, công nghiệp sạch và sản phẩm xanh.
Kỹ thuật xử lý đoạn cuối là chỉ những kỹ thuật phân tách phế thải, xử lý và thiêu huỷ, kỹ thuật giảm thiểu những phế thải gây ô nhiễm, như kỹ thuật tách lưu huỳnh ra khỏi khói.
Công nghệ sạch là chỉ những công nghệ tiên tiến được sử dụng trong quá trình sản xuất và những kỹ thuật để giảm thiểu chất ô nhiễm. Nó chủ yếu bao gồm nhiên liệu thay thế, kỹ thuật công nghệ cải tạo và tăng cường quản lý nội bộ và những loại hình khác như lợi dụng tuần hoàn nguyên liệu tại hiện trường.
Sản phẩm xanh là chỉ những sản phẩm trong quá trình sử dụng không gây nguy hại cho môi trường. Nó chủ yếu bao gồm các tầng hàm nghĩa sau: sản phẩm trong quá trình tiêu dùng và những tàn dư của chúng sau quá trình tiêu dùng gây hại tối thiểu cho môi trường (bao gồm thể tích sản phẩm hợp lý, sự đóng gió và chức năng sử dụnợchpj lý): có thể tách ra để thiết kế; sản phẩm sau khi thu hồi có thể tuần hoàn tái sinh.
Kỹ thuật xanh có bốn đặc trưng cơ bản. Thứ nhất, kỹ thuật xanh không phải là kỹ thuật đơn nhất nào đó mà là một kỹ thuật hoàn chỉnh toàn bộ. Không những bao gồm sinh thái nông nghiệp, sản xuất sạch mà còn bao gồm kỹ thuật phòng ngừa phá hoại sinh thái, kỹ thuật phòng ngừa ô nhiễm và kỹ thuật đo lường môi trường… Giữa các kỹ thuật này có mối liên quan đến nhau. Thứ hai, kỹ thuật xanh có tính chiến lược cao độ. Nó gắn chặt với chiến lược có thể tiếp tục phát triển, chính sự sáng tạo và sự phát triển kỹ thuật xanh là thực hiện con đường căn bản để có thể tiếp tục phát triển. Thứ ba, cùng với thời gian và sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật, bản thân kỹ thuật xanh cũng không ngừng biến đổi và phát triển. Đặc biệt là quan niệm về giá trị môi trường, cái dùng làm căn cứ của kỹ thuật xanh cũng không ngừng biến đổi, vì thế mà kỹ thuật xanh cũng biến đổi theo. Cuối cùng kỹ thuật xanh có quan hệ mật thiết với kỹ thuật cao mới. Kỹ thuật cao có thể tìm thấy mảnh đất dụng võ trong kỹ thuật xanh. Hai cái kết hợp với nhau mới có thể thúc đẩy xã hội nhân loại phát triển tốt hơn.
Nền văn minh nhân loại đã đi qua những hậu quả tang thương: văn minh nông nghiệp sớm nhất đã phá hoại rừng núi, thảo nguyên, trồng trọt khiến cho từng mảng diện tích đất lớn bị xói mòn, cho nên con người gọi đó là nền "văn minh màu vàng"; văn minh công nghiệp tiếp theo tạo nên ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng, khiến cho bầu trời khói đen mù mịt, nước biến thành màu đen và thối, cho nên con người gọi đó là nền "Văn minh màu đen". Còn hiện nay con người đang cố gắng xây dựng "Văn minh màu xanh", kêu gọi con người chung sống hài hòa với thiên nhiên, môi trường và kinh tế cùng phát triển hài hòa.
Ngày nay, những nước có tuổi thọ bình quân cao trên thế giới là: Thuỵ Điển, Băng Đảo, Hà Lan, Na Uy và Nhật Bản. Những nước này đều là các nước duyên hải hoặc hải đảo.
Vùng duyên hải hướng ra biển, không khí ít bị ô nhiễm hơn lục địa. Trong không khí chứa ít chất độc và chứa nhiều nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể. Các ion âm trong không khí biến rất nhiều, có thể cải thiện chức năng trao đổi khí của phổi, tăng thêm lượng hấp thụ oxy và bài tiết khí CO 2, điều tiết sự hưng phấn và trạng thái ức chế của hệ thần kinh trung ương, kích thích chức năng của hệ thống tạo huyết… rất có lợi cho sức khoẻ.
Khí hậu miền biển nói chung ấm áp mà mát dịu, mặc dù khí hậu của các nước Bắc Âu tương đối lạnh. Miền biển, khí hậu trong một năm biến đổi không lớn, không giống như khí hậu lục địa lúc nóng quá, lúc lạnh quá, điều đó rất có lợi cho sự hấp thụ và đào thải của cơ thể. Ví dụ đảo Hải Nam Trung Quốc bốn bề là biển, khí hậu ôn hoà, mùa hè dài, mùa đông không có, gần như mùa thu và mùa xuân nối liền nhau, không khí tươi mát, nhiệt độ bình quân cả năm là 23 - 25 oC, số ngày nhiệt độ cao trên 35 0C ít hơn trong lục địa 10 - 20 ngày. Tỉ lệ những người trên 100 tuổi ở đảo Hải Nam đạt đến 1/100.000, cao hơn so với toàn quốc là 0.37/100.000. Tương tự đảo Trường Hưng trên biển, mùa hè khí hậu không nóng dữ dội, mùa đông không rét lắm, bốn bề là nước bao quanh, bốn mùa cây cối xanh tốt, nồng độ ion âm trong không khí cao. Vì vậy dân cư trên đảo rất nhiều người thọ.
Hải sản miền biển phong phú, chủng loại thực vật nhiều, có lợi cho điều tiết cân bằng dinh dưỡng của cơ thể. Ví dụ ở Nhật, lượng tiêu thụ hải sản bình quân một người thuộc loại cao nhất thế giới, tuổi thọ bình quân của người Nhật cũng đứng đầu thế giới. Dân cư trên đảo Hải Nam của Trung Quốc thức ăn chính là gạo, khoai, các loại rau dưa và hải sản, họ rất ít ăn mỡ động vật.
Dân cư miền biển thường được cung cấp đầy đủ các nguyên tố cần thiết cho sự sống. Các chất độc trong nước biển nồng độ rất thấp, khiến cho họ hạn chế được tối đa tốc độ tích lũy các nguyên tố độc hại và những nguyên tố không cần thiết cho cơ thể. Ví dụ, các chuyên gia thường tiến hành xác định tóc của những người ở đảo Trường Hưng, phát hiện hàm lượng mangan và kẽm phổ biến hơi cao, các nguyên tố vi lượng đồng, môlipđen tương đối thấp. Các nhà y học cho rằng mangan và kẽm là chất có lợi cho cơ thể, còn đồng và molipden nhiều không có lợi cho sức khoẻ. Môi trường địa lý độc đáo của đảo Trường Hưng khiến cho nguồn nước, đất đai ở trên đảo và các nông sản đều chứa mangan, kẽm cao, còn hàm lượng đồng và molipđen thấp.
Những khu vực có tuổi thọ cao trên thế giới ngoài duyên hải và hải đảo ra còn có vùng rừng núi, đó là những nơi phong cảnh đẹp đẽ và yên tĩnh, hoặc trong những vùng lục địa ở hàn đới. Nhưng nếu phân tích dân cư trên thế giới thành vùng, duyên hải và vùng lục địa để so sánh thì tuổi thọ của vùng duyên hải cao hơn nhiều.
Ngày nay người ta cho rằng thành phố sinh thái là khu vực sinh sống lý tưởng của loài người. Khu ăn ở lý tưởng của dân cư thành phố trong tương lai là thành phố sinh thái tức là con người và thiên nhiên chung sống hài hòa, vừa là vườn hoa, vừa là đồng ruộng.








