Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 22/02/2010 16:31 (GMT+7)

Mô hình phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn (1999 – 2008)

1. Đặt vấn đề

Chăn nuôi là ngành sản xuất hết sức quan trọng trong sản xuất nông thôn giải quyết vấn đề thực phẩm cho tiêu dùng và xuất khẩu.

Trong cơ cấu thực phẩm, thịt lợn chiếm tỷ lệ cao nhất trong khoảng 76 – 80%, sau đó là thịt gia cầm 15 – 17% thấp nhất là thịt trâu, bò 4 – 6%, thịt các vật nuôi khác (chủ yếu dê, cừu) khoảng 1%.

Do đó, trong đề tài mở “ Nghiên cứu xây dựng mh phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá” do cố GS. VS Vũ Tuyên Hoàng chủ trì, Hội Chăn nuôi Việt Nam chọn con lợn tỷ lệ nạc cao và gà giống lông màu chăn thả có kỹ thuật ở nông thôn làm đối tượng xây dựng mô hình.

Đề tài triển khai thực hiện ở 7 xã thuộc 6 tỉnh: xã Quí Lộc tỉnh Thanh Hoá, xã Thuỷ Xuân Tiên tỉnh Hà Tây nay là Hà Nội (2000 – 2001), xã Đông La, tỉnh Thái Bình, xã Quang Hưng tỉnh Hưng Yên (2002 – 2003), các thôn Lạc Nhuế, Đông Cao tỉnh Bắc Ninh, Quất Lâm tỉnh Bắc Giang (2004 – 2005) và 3 thôn Đông Cao, Hiệp Sơn, Bảo Tháp xã Đông Cứu tỉnh Bắc Ninh (2006 – 2007).

Đề tài tổng kết khá chi tiết có phân tích và đề xuất giải pháp được trình bày tại Hội nghị báo cáo kết quả xây dựng mô hình phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá giai đoạn 1999 – 2007 tại Thanh Hoá tháng 12 năm 2007.

Năm 2008 không còn hỗ trợ của đề tài, chúng tôi dựa vào tình hình chăn nuôi theo mô hình của 3 xã Quí Lộc, Thuỷ Xuân Tiên và Đồng Cửu phân tích và đánh giá mức độ duy trì và phát triển mô hình trong sản xuất giai đoạn hậu đề tài.

Sau đây là một số kết quả cụ thể.

2. Kết quả

Bảng 1. Kết quả duy trì và mở rộng mô hình gà lông màu chăn nuôi

Kết quả phát triển mô hình nuôi gà giống lông màu năm 2008 trình bày ở bảng 1 cho thấy:

a) Số hộ nuôi gà giống lông màu chăn thả ở 3 xã chỉ bằng 37,6% số hộ (108/287 hộ) của 7 xã, nhưng số lượng gà nuôi và sản lượng trứng thu được cao hơn hẳn và chiếm trên 95% số gà nuôi và sản lượng trứng của 7 xã giai đoạn 1999 – 2007.

b) Số hộ nuôi gà thịt (253/ 1114 hộ) chỉ chiếm 22,7%, nhưng số lượng nuôi gà thịt đạt khoảng 157600 con tăng gần gấp 2 lần và sản xuất được 284 tấn thịt gà hơi so với 115 tấn của giai đoạn 1999 – 2007 tăng 183,2%.

c) Quy mô chăn nuôi trong mô hình năm 2008 không có đầu tư hỗ trợ vẫn tăng so với bình quân/ năm của những năm thuộc giai đoạn 1999 – 2007. Qui mô gà giống lông màu sinh sản và gà thịt trong nông hộ đã tăng lên đạt bình quân trên 130 gà mái đẻ và khoảng 630 gà thịt/ hộ ở những hộ nuôi gà thịt. Đây có thể là căn cứ ban đầu giúp hình thành các trang trại và gia trại chăn nuôi gà qui mô vừa và nhỏ ở nông thôn nếu lãnh đạo cấp thôn, xã biết nắm thời cơ.

Bảng 2. Kết quả mở rộng mô hình chăn nuôi lợn tỷ lệ nạc cao theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Từ những kết quả trình bày ở bảng 2, chúng ta nhận thấy:

a) Khác với mô hình nuôi gà lông màu chăn thả, trong mô hình nuôi lợn tỷ lệ nạc cao theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tất cả các chỉ tiêu về số hộ tham gia, số lợn nái ngoại, số lợn nái lai và số bếp khí biogas ở 3 xã đạt được trong năm 2008 đều cao hơn so với 7 xã, thôn giai đoạn 1999 – 2007.

b) Trong năm 2008 có 272 hộ nuôi lợn nái sinh sản, trong đó 27 hộ (10%) nuôi 360 lợn ngoại theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bình quân 13 con/ hộ và 245 hộ (90%) nuôi 735 nái lai bình quân 3 con/ hộ sản xuất và cung cấp giống nuôi thịt cho 145 hộ nuôi 11477 lợn bình quân 80 lợn thịt/ hộ và tăng thêm 49 bếp khí biogas giải quyết chất đốt cho các hộ gia đình ở nông thôn.

3. Kết luận và đề nghị

3.1 Kết luận

- Ở giai đoạn hậu đề tài, các mô hình gà giống lông màu chăn thả có kỹ thuật ở nông thôn và mô hình nuôi lợn tỷ lệ nạc cao theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở xã Quí Lộc, Thanh Hoá và xã Thuỷ Xuân Tiên Hà Nội từ năm 2002 đến nay và ở thôn Đông Cao xã Đông Cứu Bắc Ninh từ đầu năm 2008 vẫn được duy trì và tiếp tục phát triển mở rộng trong sản xuất.

- Mô hình nuôi gà giống lông màu chăn thả có những nét tương đồng giữa các xã, thôn với xu thế, nếu hướng dẫn nông hộ nuôi gà có kỹ thuật ở nông thôn thì họ thích nuôi gà thịt hơn nuôi gà mái đẻ. Những hộ nuôi gà sinh sản đợt này đã đưa qui mô bình quân từ 40 – 60 gà mái/hộ khi mới xây dựng mô hình lên đạt bình quân 12 – 130 gà mái/ hộ, có nơi có hộ nuôi 200 con (Đông Cao) hoặc 300 con/ họ (Thuỷ Xuân Tiên) nhưng vẫn chưa bền vững vì thiếu nguồn cung cấp giống ổn định, song cũng hé mở hướng chăn nuôi trang trại với các qui mô khác nhau.

- Mô hình nuôi lợn tỉ lệ nạc cao hiện nay số hộ nuôi chưa nhiều nhưng thể hiện được tính ổn định và bền vững tương đối rõ nét. Nếu không được đầu tư hỗ trợ người nông dân miền Bắc chỉ dám nuôi lợn lai ngoại, nội Yoocsai – Móng Cái, bình quân 2 – 3 nái/ hộ. Trường hợp được đầu tư hỗ trợ và được hướng dẫn kỹ thuật họ có thể nuôi lợn nái ngoại Yoocsai hoặc Landrat theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên diện rộng qui mô bình quân/ hộ 10 – 15 lợn nái sinh sản hoặc hơn, kết hợp với xây dựng bể khí biogas giải quyết chất đất và làm sạch môi trường ở nông thôn.

3.2 Đề nghị

Trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp ở nông thôn, công nghiệp hoá chăn nuôi dễ triển khai và nhiều tiềm năng.

Trên cơ sở những kết quả đạt được của các mô hình chăn nuôi thuộc đề tài mở “ Nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá” do LHH chủ trì và cố GS. VS Vũ Tuyên Hoàng làm chủ nhiệm đề tài trong những năm từ 1999 đến 2008, chúng tôi thiết nghĩ trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá chăn nuôi ta có thể lấy công nghiệp hoá chăn nuôi lợn triển khai trước, coi đây là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho phát triển chăn nuôi thâm canh theo hướng công nghiệp hhoá, hiện đại hoá.

Để triển khai, tôi đề nghị LHH có một dự án thử nghiệm trình diễn mô hình nuôi lợn nái ngoại theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở vùng đồng bằng sông Hồng, khởi đầu triển khai ở một số thôn, xã, huyện thuộc các tỉnh ven quốc lộ số 5 từ Hà Nội đến Hải Phòng trên cơ sở liên kết 4 nhà mà khối trung tâm là nhà nông và nhà doanh nghiệp có xí nghiệp lợn giống, Xí nghiệp chế biến thức ăn gia súc, Xí nghiệp chế biến thực phẩm và tiêu thụ sản phẩm, tạo thế ổn định và bền vững của mô hình trong sản xuất, góp phần đa dạng hoá sản xuất ở nông thôn.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.