Mô hình phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn (1999 – 2008)
1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi là ngành sản xuất hết sức quan trọng trong sản xuất nông thôn giải quyết vấn đề thực phẩm cho tiêu dùng và xuất khẩu.
Trong cơ cấu thực phẩm, thịt lợn chiếm tỷ lệ cao nhất trong khoảng 76 – 80%, sau đó là thịt gia cầm 15 – 17% thấp nhất là thịt trâu, bò 4 – 6%, thịt các vật nuôi khác (chủ yếu dê, cừu) khoảng 1%.
Do đó, trong đề tài mở “ Nghiên cứu xây dựng mh phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá” do cố GS. VS Vũ Tuyên Hoàng chủ trì, Hội Chăn nuôi Việt Nam chọn con lợn tỷ lệ nạc cao và gà giống lông màu chăn thả có kỹ thuật ở nông thôn làm đối tượng xây dựng mô hình.
Đề tài triển khai thực hiện ở 7 xã thuộc 6 tỉnh: xã Quí Lộc tỉnh Thanh Hoá, xã Thuỷ Xuân Tiên tỉnh Hà Tây nay là Hà Nội (2000 – 2001), xã Đông La, tỉnh Thái Bình, xã Quang Hưng tỉnh Hưng Yên (2002 – 2003), các thôn Lạc Nhuế, Đông Cao tỉnh Bắc Ninh, Quất Lâm tỉnh Bắc Giang (2004 – 2005) và 3 thôn Đông Cao, Hiệp Sơn, Bảo Tháp xã Đông Cứu tỉnh Bắc Ninh (2006 – 2007).
Đề tài tổng kết khá chi tiết có phân tích và đề xuất giải pháp được trình bày tại Hội nghị báo cáo kết quả xây dựng mô hình phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá giai đoạn 1999 – 2007 tại Thanh Hoá tháng 12 năm 2007.
Năm 2008 không còn hỗ trợ của đề tài, chúng tôi dựa vào tình hình chăn nuôi theo mô hình của 3 xã Quí Lộc, Thuỷ Xuân Tiên và Đồng Cửu phân tích và đánh giá mức độ duy trì và phát triển mô hình trong sản xuất giai đoạn hậu đề tài.
Sau đây là một số kết quả cụ thể.
2. Kết quả
Bảng 1. Kết quả duy trì và mở rộng mô hình gà lông màu chăn nuôi
Kết quả phát triển mô hình nuôi gà giống lông màu năm 2008 trình bày ở bảng 1 cho thấy:
a) Số hộ nuôi gà giống lông màu chăn thả ở 3 xã chỉ bằng 37,6% số hộ (108/287 hộ) của 7 xã, nhưng số lượng gà nuôi và sản lượng trứng thu được cao hơn hẳn và chiếm trên 95% số gà nuôi và sản lượng trứng của 7 xã giai đoạn 1999 – 2007.
b) Số hộ nuôi gà thịt (253/ 1114 hộ) chỉ chiếm 22,7%, nhưng số lượng nuôi gà thịt đạt khoảng 157600 con tăng gần gấp 2 lần và sản xuất được 284 tấn thịt gà hơi so với 115 tấn của giai đoạn 1999 – 2007 tăng 183,2%.
c) Quy mô chăn nuôi trong mô hình năm 2008 không có đầu tư hỗ trợ vẫn tăng so với bình quân/ năm của những năm thuộc giai đoạn 1999 – 2007. Qui mô gà giống lông màu sinh sản và gà thịt trong nông hộ đã tăng lên đạt bình quân trên 130 gà mái đẻ và khoảng 630 gà thịt/ hộ ở những hộ nuôi gà thịt. Đây có thể là căn cứ ban đầu giúp hình thành các trang trại và gia trại chăn nuôi gà qui mô vừa và nhỏ ở nông thôn nếu lãnh đạo cấp thôn, xã biết nắm thời cơ.
Bảng 2. Kết quả mở rộng mô hình chăn nuôi lợn tỷ lệ nạc cao theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Từ những kết quả trình bày ở bảng 2, chúng ta nhận thấy:
a) Khác với mô hình nuôi gà lông màu chăn thả, trong mô hình nuôi lợn tỷ lệ nạc cao theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tất cả các chỉ tiêu về số hộ tham gia, số lợn nái ngoại, số lợn nái lai và số bếp khí biogas ở 3 xã đạt được trong năm 2008 đều cao hơn so với 7 xã, thôn giai đoạn 1999 – 2007.
b) Trong năm 2008 có 272 hộ nuôi lợn nái sinh sản, trong đó 27 hộ (10%) nuôi 360 lợn ngoại theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bình quân 13 con/ hộ và 245 hộ (90%) nuôi 735 nái lai bình quân 3 con/ hộ sản xuất và cung cấp giống nuôi thịt cho 145 hộ nuôi 11477 lợn bình quân 80 lợn thịt/ hộ và tăng thêm 49 bếp khí biogas giải quyết chất đốt cho các hộ gia đình ở nông thôn.
3. Kết luận và đề nghị
3.1 Kết luận
- Ở giai đoạn hậu đề tài, các mô hình gà giống lông màu chăn thả có kỹ thuật ở nông thôn và mô hình nuôi lợn tỷ lệ nạc cao theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở xã Quí Lộc, Thanh Hoá và xã Thuỷ Xuân Tiên Hà Nội từ năm 2002 đến nay và ở thôn Đông Cao xã Đông Cứu Bắc Ninh từ đầu năm 2008 vẫn được duy trì và tiếp tục phát triển mở rộng trong sản xuất.
- Mô hình nuôi gà giống lông màu chăn thả có những nét tương đồng giữa các xã, thôn với xu thế, nếu hướng dẫn nông hộ nuôi gà có kỹ thuật ở nông thôn thì họ thích nuôi gà thịt hơn nuôi gà mái đẻ. Những hộ nuôi gà sinh sản đợt này đã đưa qui mô bình quân từ 40 – 60 gà mái/hộ khi mới xây dựng mô hình lên đạt bình quân 12 – 130 gà mái/ hộ, có nơi có hộ nuôi 200 con (Đông Cao) hoặc 300 con/ họ (Thuỷ Xuân Tiên) nhưng vẫn chưa bền vững vì thiếu nguồn cung cấp giống ổn định, song cũng hé mở hướng chăn nuôi trang trại với các qui mô khác nhau.
- Mô hình nuôi lợn tỉ lệ nạc cao hiện nay số hộ nuôi chưa nhiều nhưng thể hiện được tính ổn định và bền vững tương đối rõ nét. Nếu không được đầu tư hỗ trợ người nông dân miền Bắc chỉ dám nuôi lợn lai ngoại, nội Yoocsai – Móng Cái, bình quân 2 – 3 nái/ hộ. Trường hợp được đầu tư hỗ trợ và được hướng dẫn kỹ thuật họ có thể nuôi lợn nái ngoại Yoocsai hoặc Landrat theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên diện rộng qui mô bình quân/ hộ 10 – 15 lợn nái sinh sản hoặc hơn, kết hợp với xây dựng bể khí biogas giải quyết chất đất và làm sạch môi trường ở nông thôn.
3.2 Đề nghị
Trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp ở nông thôn, công nghiệp hoá chăn nuôi dễ triển khai và nhiều tiềm năng.
Trên cơ sở những kết quả đạt được của các mô hình chăn nuôi thuộc đề tài mở “ Nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá” do LHH chủ trì và cố GS. VS Vũ Tuyên Hoàng làm chủ nhiệm đề tài trong những năm từ 1999 đến 2008, chúng tôi thiết nghĩ trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá chăn nuôi ta có thể lấy công nghiệp hoá chăn nuôi lợn triển khai trước, coi đây là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho phát triển chăn nuôi thâm canh theo hướng công nghiệp hhoá, hiện đại hoá.
Để triển khai, tôi đề nghị LHH có một dự án thử nghiệm trình diễn mô hình nuôi lợn nái ngoại theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở vùng đồng bằng sông Hồng, khởi đầu triển khai ở một số thôn, xã, huyện thuộc các tỉnh ven quốc lộ số 5 từ Hà Nội đến Hải Phòng trên cơ sở liên kết 4 nhà mà khối trung tâm là nhà nông và nhà doanh nghiệp có xí nghiệp lợn giống, Xí nghiệp chế biến thức ăn gia súc, Xí nghiệp chế biến thực phẩm và tiêu thụ sản phẩm, tạo thế ổn định và bền vững của mô hình trong sản xuất, góp phần đa dạng hoá sản xuất ở nông thôn.








