Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 11/10/2010 18:32 (GMT+7)

Mô hình khuyến nông cải tạo đàn bò theo hướng chuyên thịt gắn với kỹ thuật thụ tinh nhân tạo

Kết quả thiết thực từ mô hình

Từ năm 1993 đến nay, chương trình đã thu hút gần 600.000 hộ của trên 50 tỉnh, thành và đã góp phần đưa tỷ lệ bò lai Zebu từ 10% năm 1993 lên 32% vào năm 2008, khối lượng bò trưởng thành từ 180 kg/con lên 250 – 280 kg/con và tỷ lệ thịt xẻ từ 38% lên 45 – 50%. Một số tỉnh đã hưởng ứng và thực hiện tốt chương trình này như Hà Tây (cũ) tỷ lệ bò lai 85%, Vĩnh Phúc (65%), Tây Ninh (83%), Bình Dương (75%), Trà Vinh (50%)… Để chương trình cải tạo bò đạt hiệu quả cao và bền vững, các lớp TTNT cho bò cấp quốc gia đã liên tục được mở, đã đào tạo cho trên 1000 dẫn tinh viên chính quy, 2500 dẫn tinh viên cấp huyện và trên 7000 khuyến nông viên chăn nuôi thú y. Kỹ thuật truyền thống nhân tạo và sử dụng tinh bò đông lạnh chất lượng cao ngày càng được áp dụng rộng rãi và hiệu quả. Năm 1993 cả nước chỉ sử dụng vài chục ngàn liều/ năm, nay đã sử dụng ½ triệu liều tinh trong chương trình cải tạo đàn bò, đưa tỷ lệ bò được TTNT lên 55%.

Từ mô hình khuyến nông trọng điểm

Tại Đắk Lắk, tổng đàn bò thịt của tỉnh là 223.915 con (trong 10 tỉnh có đàn bò lớn nhất cả nước) nhưng chủ yếu là bò cỏ, bò địa phương, tỷ lệ bò lai đạt thấp, chiếm khoảng 23%. Vì vậy kết quả khả quan từ mô hình khuyến nông cải tạo đàn bò theo hướng chuyên thịt năm 2007 – 2008 đã góp phần tích cực vào chủ trương chung của tỉnh là đẩy mạnh cải tạo đàn bò của địa phương. Tại 6 điểm là thị trấn Ea pốp, xã Quảng Hiệp, thị trấn Quảng Phú, xã EaMnang, xã Eakpam và xã EaMdroh thuộc huyện CưMnga, mô hình thực hiện cải tạo đàn bò theo 2 phương thức là nhảy trực tiếp, sử dụng bò lai Brahman và thụ tinh nhân tạo với nguồn tinh cọng rạ thuần chủng Brahman vàng. Sau gần 2 năm thực hiện, mô hình đã mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội khá rõ nét cho bà con trong vùng. Đã có 425 bê lai được sinh ra. Khối lượng bê lai sơ sinh cao hơn hẳn bê cỏ tại địa phương là 4,78 kg/con. Bê lai nuôi đến 6 tháng tuổi đạt khối lượng 109 kg, cao hơn bê tại địa phương là 26,5 kg. Tính trung bình bê lai 1 năm tuổi bán được 5 triệu đồng, nhiều hơn 1 – 1,5 triệu đồng/ con so với bê cỏ cùng thời gian nuôi và đặc biệt là bê lai rất dễ bán do ngoại hình đẹp, màu lông cánh gián hoặc vàng đậm, trường khung, tai to và dài. Bê lai tỏ ra thích hợp với vùng núi cao Tây Nguyên, tỷ lệ bê nuôi sống đến 6 tháng tuổi đạt 98%. Anh Đinh Văn Hà, một trong những hộ tham gia mô hình tại xã AeMdroh nhờ tham gia mô hình này mà hiện nay trang trại của anh đã có tổng đàn bò 100 con với gần 40 con bê lai, 3 ha cỏ voi, lợi nhuận 100 triệu đồng sau gần 2 năm thực hiện mô hình. Ngoài đàn bò trong trang trại, anh còn cho bò đực giống phối cho gần 50 con bò cái có chửa cho bà con xung quanh, góp phần tích cực trong việc cải tạo đàn bò theo hướng chuyên thịt này đã làm thay đổi dần nhận thức, tập quán chăn nuôi của bà con trong vùng qua việc phân biệt, so sánh những lợi thế giữa nuôi giống bê lai và bê cỏ, bà con được nâng cao tay nghề, đặc biệt là kỹ thuật thụ tinh nhân tạo của một số cán bộ kỹ thuật làm công tác khuyến nông tại địa phương.

Đến chương trình khuyến nông địa phương

Trung tâm khuyến nông Trà Vinh đã triển khai thực hiện mô hình “Cải tạo giống bò theo hướng chuyên thịt” sử dụng tinh của các giống bò như: Brahman, Sind thông qua phương pháp gieo tinh nhân tạo (GTNT) từ năm 2000. Đến nay đã có trên 18.000 con bò cái được phối giống, tạo ra đàn bê lai có chất lượng tốt, tỷ lệ nuôi sống cao, đạt trên 90%. Khối lượng bê sơ sinh đạt bình quân 18 – 22 kg (tăng 58 – 60% so với bê nội), bò một năm tuổi đạt trọng lượng từ 130 – 150 kg, hai năm tuổi đạt 180 – 230 kg, tăng 35 – 40% so với bò địa phương cùng lứa tuổi. Tỷ lệ thịt xẻ cũng tăng lên đáng kể, từ 40% tăng lên 47%. Đàn bò cái lai đã đạt trọng lượng 200 – 25 kg, tăng 30 – 40% so với bò cái địa phương. Qua các năm thực hiện, mô hình cải tạo đàn bò bằng phương pháp gieo tinh nhân tạo mang lại hiệu quả kinh tế cao, được đa số nông dân hưởng ứng, tỷ lệ đậu thai 80 – 90%, hạn chế được một số bệnh truyền nhiễm lây lan qua đường sinh dục, bê con sinh ra có trọng lượng trung bình gấp 1,3 – 1,5 lần so với phối giống trực tiếp bò đựa địa phương. Bê tăng trọng nhanh, dễ bán và giá bán cao so với bê địa phương. Mặc dù dẫn tinh viên không được trả lương nhưng vẫn thực hiện tốt, điều đó đã chứng minh rằng từng bước xã hội hóa trong công tác khuyến nông và người dân đã quen với công tác TTNT, góp phần nâng tỷ lệ máu lai đàn bò của tỉnh. Mô hình từng bước thay đổi tập quán và cách nhìn của người dân nuôi bò (đặc biệt là bà con nông dân người dân tộc Khmer) về kỹ thuật nuôi cột; chăn thả tự nhiên; cho ăn đơn thuần rơm, rạ, cỏ; không phát hiện động dục… nay đã biết đầu tư làm chuồng cơ bản, cho ăn bổ sung khoáng và thức ăn tinh, biết trồng cỏ, biết rủ rơm urea trong những lúc thiếu cỏ xanh và tiêm phòng một số bệnh thường gặp. Về hiệu quả xã hội, mô hình tạo việc làm cho người lao động, kể cả lao động phụ như người già và trẻ em, tận dụng tốt nguồn phụ phẩm nông nghiệp như rơm, thân cây bắp, câu đậu phộng góp phần tăng thu nhập cho người chăn nuôi. Đối với hiệu quả môi trường, phân bò được một số hộ dân tận dụng để làm hầm ủ biogas, góp phần bảo vệ tốt môi trường ứng dụng khí làm chất đốt cho đun nấu và thắp sáng, ngoài ra còn sử dụng phân để nuôi trùn quế, làm phân bón cho cây trồng.

Giải pháp và bài học kinh nghiệm

Tăng cường xây dựng mô hình cải tạo đàn bò theo hướng chuyên thịt bằng phương thức thụ tinh nhân tạo.

Đào tạo, tổ chức hệ thống dẫn tinh viên thật tốt phục vụ cho công tác TTNT. Thực tế cho thấy ở địa bàn nào có dẫn tinh viên có tay nghề cao thì việc gieo tinh nhân tạo cải tạo cho đàn bò thực hiện rất tốt.

Cán bộ khuyến nông cần tập huấn, bám sát mô hình, hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi bò đực giống, bò sinh sản cũng như biện pháp phòng trị bệnh cho hộ thực hiện mô hình, đặc biệt là bệnh lở mồm long móng.

Việc tổ chức chọn mua bò đực giống là khâu quyết định kết quả của mô hình cải tạo đàn bò, do vậy cần phải tổ chức thật tốt công việc này.

Cần có biện pháp chủ động nguồn thức ăn thô cho đàn bò bằng cách trồng cỏ năng suất cao, tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp vì thực tế cho thấy ở các hộ nuôi nhiều, bò bị thiếu ăn, năng suất sinh sản kém.

Hộ tham gia nuôi bò đực giống cần có đủ nhân lực và chủ động nguồn thức ăn mới có thể đáp ứng tốt công tác cải tạo đàn bò về lâu dài. Hộ nuôi bò cái sinh sản cần phải có đất để trồng cỏ cung cấp thức ăn xanh trong mùa khô, chịu khó học hỏi và mạnh dạn áp dụng TBKT trong chăn nuôi, có kinh nghiệm trong thực tế, kinh tế ổn định có thể đầu tư thêm cho mô hình thành công.

Công tác kiểm tra, giám sát, chỉ đạo và hướng dẫn kỹ thuật được thực hiện thường xuyên là một biện pháp rất thiết thực mang lại những kết quả nêu trên.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW
Sáng 30/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ban biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Nhìn từ chiều sâu văn hóa làng xã
Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện về tinh gọn bộ máy, tổ chức lại địa giới hành chính màcòn là phép thử về năng lực quản trị những giá trị mềm: tên làng, ký ức cộng đồng, di sản, thiết chế văn hóa, không gian tín ngưỡng và cảm giác thuộc về của người dân.
Hội nghị AFEO Midterm 2026
Ngày 30/6, tại Yangon, Myanmar, Liên đoàn các tổ chức kỹ sư ASEAN (AFEO) chính thức khai mạc phiên toàn thể Hội nghị giữa kỳ lần thứ 25. Đây là diễn đàn thường niên được tổ chức nhằm để các nhà khoa học, các kỹ sư, các chuyên gia cùng chia sẻ, thảo luận các giải pháp trong việc xây dựng một tương lai bền vững cho khu vực ASEAN.
Lào Cai: 118 hộ đồng bào dân tộc thiểu số hưởng lợi từ mô hình cấp nước tự quản
Sau gần một năm triển khai, Dự án “Hỗ trợ nước sinh hoạt cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân tộc thiểu số thôn 4, xã Khánh Hòa, tỉnh Lào Cai” do Trung tâm Hỗ trợ phát triển bền vững cộng đồng các dân tộc miền núi (SUDECOM) thực hiện đã hoàn thành mục tiêu, đánh dấu một mô hình điểm về quản lý, vận hành hệ thống cấp nước dựa vào cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống cho 118 hộ dân.
Hải Phòng: Chuyển đổi số toàn diện để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Sáng 26/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố (Liên hiệp hội) Hải Phòng phối hợp với Hội Điện tử và Tin học thành phố, Chi nhánh Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - Chi nhánh Duyên hải Bắc Bộ (VCCI Duyên hải Bắc Bộ) tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: “Nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Hải Phòng thông qua chuyển đổi số toàn diện”.