Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 24/05/2010 20:48 (GMT+7)

Lưu vực sông Lam nửa đầu thế kỷ XIX

Đây là đất tổ của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ - những người đứng đầu phong trào nông dân Tây Sơn và chính họ đã lật đổ nền thống trị của dòng họ Nguyễn trên phần đất Đàng Trong vào cuối thế kỷ XVIII. Mặc dầu Nguyễn Ánh đã xóa bỏ hoàn toàn vương triều Tây Sơn vào năm 1802 nhưng dòng họ Hồ ở Nghệ An nói riêng và nhiều dòng họ khác từng tận tâm ủng hộ, giúp đỡ phong trào nông dân Tây Sơn và vương triều Tây Sơn vẫn còn đó trên đất Nghệ An. Trấn Nghệ An có diện tích “Đông, Tây, Nam, Bắc đều cách nhau 500 dặm” (1), ngoài các phủ huyện ở đồng bằng và trung du còn có cả một vùng đất rộng mênh mông ở phía Tây dọc theo dãy Trường Sơn, đường xá đi lại khó khăn, dân cư thưa thớt, việc xác lập và củng cố vương quyền của dòng họ Nguyễn trên vùng đất ấy không phải dễ dàng.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi trình bày một số chính sách, biện pháp mà các hoàng đế nhà Nguyễn đã thực thi ở trấn Nghệ An (1802 - 1830), tỉnh Nghệ An, tỉnh Hà Tĩnh (1831 - 1850) nhằm xác lập và củng cố vương quyền trên vùng đất rộng lớn ấy cũng như huy động mọi nguồn lực vật chất, tinh thần của cộng đồng cư dân xứ Nghệ vào việc xây dựng chế độ quân chủ ở nước ta.

Ngay sau khi lên ngôi hoàng đế, năm 1803, Gia Long thực hiện chuyến Bắc tuần lần thứ nhất nhằm ổn định tình hình Bắc Hà và nhận sắc phong của nhà Thanh tại thành Hà Nội. Trong chuyến Bắc tuần ấy, Gia Long quyết định chuyển dời lỵ sở trấn Nghệ An và trấn Thanh Hóa đi nơi khác.

“Dời lỵ sở trấn Nghệ An và trấn Thanh Hóa đi nơi khác. Trước là khi vua Bắc tuần (Gia Long bắc tuần vào tháng 8 năm Quý Hợi, 1803); ngày Quý Dậu xa giá đến Nghệ An, đóng ở hành cung Hà Trung, ngày Bính Tuất trú tại hành cung Nghệ An, ngày Tân Sửu xa giá từ Nghệ An ra Thanh. Xa giá đến lỵ sở hai trấn ấy (lỵ sở trấn Nghệ An cũ ở xã Dũng Quyết huyện Châu Lộc) bàn muốn dời di nơi khác, bèn trải xem địa đồ định lấy xã Thọ Hạc huyện Đông Sơn làm trấn lỵ Thanh Hóa, xã An Trường huyện Chân Lộc làm trấn lỵ Nghệ An..” (2).

Trong thời gian nghỉ tại hành cung Vĩnh Din (xã Vĩnh Yên, huyện Châu Lộc), vua Gia Long cho xây dựng lại miếu thờ Khổng Tử, chuẩn bị cho việc chuyển dời lỵ sở Nghệ An về vùng đất này (tại Công ty cổ phần in Nghệ An hiện nay). Tháng 5 năm sau (tức tháng 5 năm Giáp Tý, 1804), vua Gia Long xuống chiếu cho Tả quân Lê Văn Duyệt đốc suất việc xây thành, đắp lũy, dựng tạm nhà cửa bằng tranh tre nứa lá để chuyển dời lỵ sở Nghệ An từ Lam Thành – Phù Thạch về Vĩnh Yên và Yên Trường (tức Vinh ngày nay). Ngay sau đó công cuộc chuyển dời lỵ sở Nghệ An được tiến hành. Toàn bộ quan lại, quân đội cùng một số thương nhân Hoa Kiều từ Lam Thành – Phù Thạch chuyển về Vĩnh Yên và Yên Trường. Số thương nhân Hoa kiều định cư ngay phía nam trấn thành, sau lập thành “Phố Khách”, chuyên buôn bán vải vóc, tơ lụa, thuốc bắc, thu mua cánh kiến, sừng tê, ngà voi, da lông thú... (nay thuộc ngã tư chợ Vinh đi lên vườn hoa Cửa Nam , phường Hồng Sơn).

Trường thi Hương Nghệ An cũng được chuyển từ Lam Thành về Vĩnh Yên. Ngay trong khoa thi Hương ngạch văn đầu tiên tổ chức vào năm 1807, trường thi Hương Nghệ An dựng tạm bằng tranh nứa lá, nằm ở phía đông nam trấn thành, đã chính thức trở thành một trong năm trung tâm tuyển chọn hiền tài của cả nước. Thời Gia Long tổ chức ba kỳ thi Hương ngạch văn vào các năm 1807, 1813, 1819, riêng trường thi Hương Nghệ An cung cấp cho nhà Nguyễn 34 Hương Cống (Cử nhân) để bổ sung vào bộ máy quan lại của nhà Nguyễn.

Đến năm 1943 dưới thời vua Thiệu Trị, trường chuyển về địa phận thôn Yên Dũng Thượng (nay thuộc phường Trường Thi). Trường được xây dựng theo quy cách trường thi Hương ở phủ Thừa Thiên. Tường bao quanh được xây bằng đá ong và gạch, có chiều cao 4 thước 5 tấc, với chu vi 193 trượng. Trong trường có đủ các vị, giáp cho hàng ngàn sĩ tử dự thi và nhà cửa bằng gạch ngói kiên cố cho quan lại coi thi làm việc trong suốt thời gian diễn ra kỳ thi. Từ năm 1807 đến năm 1918,nhà Nguyễn tổ chức 47 kỳ thi Hương ngạch văn, riêng trường thi Hương Nghệ An tổ chức 42 kỳ thi kể cả ân khoa và chính khoa lấy đỗ 879 Hương cống và Cử nhân. Nếu tính riêng người Nghệ An có 571 vị đỗ cử nhân, nếu tính cả 24 vị người Nghệ An đỗ các trương thi khác thì tổng số Cử nhân ngạch văn người Nghệ An dưới thời Nguyễn là 595 vị, chiếm 1/8 tổng số Cử nhân ngạch văn của cả nước (3).

Ngay từ khi lên ngôi hoàng đế, Gia Long đã có ân điển cho trấn Thanh Hóa (quê tổ của dòng họ Nguyễn Phúc) và trấn Nghệ An, mỗi trấn một trường thi Hương riêng. Còn đối với các trấn thành khác, học trò từ ba, bốn trấn đến hợp thi chung một trường thi. Đặc ân này được nhà Nguyễn duy trì cho đến tận khoa thi Hương cuối cùng tổ chức vào năm 1918 (học trò Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh hợp thi chung tại trường Nghệ). Nhà Nguyễn thông qua trường thi Hương Nghệ An đã tuyển chọn được một đội ngũ trí thức đỗ đạt để bổ sung vào bộ máy quan lại nhà nước.

Để thực thi vương pháp tại trấn - tỉnh Nghệ An, các nhà vua Nguyễn đã điều những công thần bậc nhất ra nắm giữ các chức vụ quan trọng như:Ngô Nhơn Tinh, làm Hiệp trấn năm Gia Long thứ 10 (1811); Lê Chất - kinh lược hai trấn Nghệ An - Thanh Hóa năm Minh Mạng thứ 4 (1823); Nguyễn Văn Soạn làm trấn thủ Nghệ An, năm Minh Mạng thứ 5 (1824);Tại Quang Cự - Tổng đốc An Tĩnh, năm Minh Mạng thứ 14 (1833); Nguyễn Tri Phương - Tổng đốc An Tĩnh năm Minh Mạng thứ 16 (1835)... (4).

Để xóa nốt mọi dấu tích liên quan đến vương triều Tây Sơn, trên đất Nghệ An, Gia Long cho tháo dỡ toàn bộ Trung đô Phượng hoàng thành (tức Thành Phượng Hoàng dưới chân núi Dũng Quyết) đang xây dựng dở dang cuối thế kỷ XVIII, lấy nguyên vật liệu xây dựng thành Nghệ An. Sùng Chính thư viện - nơi La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp dốc toàn bộ tâm huyết những mong đưa chữ Nôm lên địa vị độc tôn cũng bị tháo dỡ, hủy bỏ. Đỗ Bang, trong công trình Những khám phá mới về hoàng đế Quang Trungcó đề cập đến một số hành động trả thù của Gia Long đối với con cháu họ Hồ ở Thái Lão (Hưng Nguyên) - vốn được coi là quê tổ của Tây Sơn. Trong thời gian qua, mở rộng nghiên cứu trên địa bàn các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành, Hưng Nguyên, Nam Đàn... chúng tôi có thu được thêm một số chứng cứ khoa học liên quan đến nội dung trên. Điều đó cho thấy, ngay từ khi Gia Long nắm quyền điều hành đất nước, ông vua đầu tiên này buộc phải thực thi nhiều biện pháp trái ngược nhau nhưng mục đích cuối cùng là nhằm xác lập vương quyền của dòng họ Nguyễn ở lưu vực sông Lam.

Theo sổ đo đạc ruộng đất để tính thuế của Nhà Nguyễn, năm Gia Long thứ 18 (1918), trấn Nghệ An có 700.976 mẫu đất để tính thuế, với ngạch tô 90.876 hộc thóc, 143.006 quan tiền, 1.112 lạng bạc, với số đinh là 65.400 người (5), Theo Bùi Dương Lịch trong Nghệ An ký, dưới thời Gia Long mức thuế đối với cư dân Nghệ An là tương đối nhẹ: “Về phép đánh thuế buôn thì ở xã Bùi Xá, Lương Trường có sở thuế; thuế ở đây chỉ đánh 1/8 hoặc 1/10 thôi. Còn những sở ở các xã Hà Hoàng, Khu Độc Võ Liệt và Khả lưu đặc biệt chỉ khám xét người qua lại, chỉ mất tiền trình. Tuy cũng có lúc đặt người thu thuế, nhưng quan thuế thì nhẹ mà người thu cũng không thể hà lạm sách nhiễu được... (6).

Suốt 82 năm (1802 - 1883), trải qua bốn triều vua, nhà Nguyễn không có chính sách đắp đê để ngăn lũ lụt do sông Lam gây nên cũng như nạn triều dâng suốt từ biển Quỳnh Lưu đến Kỳ Anh, do đó, nhân dân dọc đôi bờ sông Lam và nhân dân vùng ven biển phải liên tục gánh chịu không biết bao hậu quả do lũ lụt và triều dâng gây nên. Quốc sử quán triều Nguyễn khi biên soạn Đại Nam thực lục chính biênđã ghi lại nhiều trận lũ lụt, mất mùa, đói kém, dịch bệnh xảy ra ở Nghệ An. Trong tình thế đó, việc nông dân làng xã ở lưu vực sông Lam thường nổi dậy khởi nghĩa là điều khó tránh khỏi và nhà Nguyễn luôn phải rơi vào tình trạng lúng túng là điều binh, khiển tướng đàn áp các cuộc khởi nghĩa, nhằm duy trì trật tự quân chủ trên vùng đất này.

Kế thừa vương nghiệp của vua cha, hoàng đế Minh Mạng đẩy mạnh việc củng cố vương quyền trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ vương quốc Đại Nam nói chung và trên vùng đất Nghệ an nói riêng. Đặc biệt là trong cuộc cải cách hành chính năm 1831 - 1832, vị hoàng đế này đã tách Nghệ An thành hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, nhưng mọi quyền hành trên vùng đất rộng lớn ấy vẫn thuộc tổng đốc An Tĩnh và mọi giấy tờ sổ sách đều mang chữ “Nghệ An tỉnh” (7). Chính trong cuộc cải cách táo bạo và triêt để này, hoàng đế Minh Mạng đã cho xây dựng lại thành Nghệ An với chu vi 630 trượng cùn với hàng tường thành vững chãi được xây dựng bằng đá ong Nam Đàn và đá sò phủ Diễn. Đó là chưa kể nhà Nguyễn còn huy động hàng vạn nhân công để đào hẳn cả một con sông nối liền từ thành Nghệ An đến sông Lam với nhiều đoạn gấp khúc, nhằm đưa nước vào hệ thống hào bao quanh thành và luôn giữ lượng nước ở trong hào ổn định (8).

Ngoài thành tỉnh Nghệ An, nhà Nguyễn còn cho xây dựng thành Sen (Hà Tĩnh) với chu vi 173 trượng, bằng gạch đá kiên cố. Phía Bắc, nhà Nguyễn cho xây dựng mở rộng và kiên cố hóa thành phủ Diễn Châu. Phía Tây, thành phủ Tương Dương và phủ Anh Đô cũng được mở rộng, xây dựng kiên cố, bố trí thêm binh lực nhằm dập tắt mọi sự nổi dậy chống đối của nhân dân. Theo thuật phong thủy, toàn bộ hệ thống thành lũy trên đất Nghệ An đều mở ba cửa: cửa tiền, cửa tả, cửa hữu, riêng cửa hậu luôn đóng kín (9). Sau cải cách hành chính của Minh Mạng, dưới quyền điều hành của Tổng đốc An Tĩnh, các Tri phủ, Tri châu, Tri huyện đến các chánh tổng, lý trưởng ở làng xã tiến xa thêm một bước trong việc quản lý đất đai, thuế khóa, nhân đinh... ở lưu vực sông Lam. Vương quyền của dòng họ Nguyễn càng ngày càng được củng cố và có một thực tế là từ những năm 20 - 30 của thế kỷ XIX trở đi, số học trò tham gia các kỳ thi Hương ở trường Nghệ ngày càng đông thêm. Đến giữa thế kỷ XIX, tại tỉnh thành Nghệ An có tới 4.000 - 5.000 sĩ tử lều chõng từ Quỳnh Lưu, Anh Sơn, Hương Sơn, Thạch Hà, Kỳ Anh... về dự.

Do nhiều nguyên nhân khác nhau, từ thời Gia Long đến Minh Mạng, Thiệu Trị, để quản lý được vùng đất đai rộng lớn phía tây dọc theo dãy Trường Sơn mà nhà Nguyễn gọi là các “Châu phủ ki mi”, các hoàng đế nhà Nguyễn đã dựa vào các Lang đạo, Phìa tạo và các dòng họ có thế lực. Những nghiên cứu bước đầu của chúng tôi về các dòng họ Lương, Lang, Sầm, Vi, Hà, Cầm... thuộc các huyện Quỳ Châu, Tương Dương, Kỳ Sơn, Quế Phong, cho thấy nhà Nguyễn đã dành cho các dòng họ này nhiều quyền lợi về kinh tế và chính trị nhằm thu phục họ đứng về phía nhà Nguyễn. Dù rất cố gắng, song dường như các châu phủ ki mi vẫn chỉ lệ thuộc lỏng lẻo vào nhà Nguyễn và ở vùng rừng sâu núi thẳm đó, các dòng họ có thế lực và những Phìa tạo, Lang đạo, những Mo Môn, thầy cúng... mới thực sự là người quyết định về đời sống kinh tế, tinh hần của cư dân trong vùng chứ không phải là triều đình ở Phú Xuân.

Chú thích

1. Bùi Dương Lịch -Nghệ An ký, bản dịch của Viện Hán Nôm, Nxb KHXH, 1993.

2. Quốc sử quán triều Nguyễn -Đại Nam nhất thống trí, T2, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1992, phầnNghệ An tỉnh và Bùi Dương Lịch -Nghệ An ký , sdd.

3. 4. Nguyễn Quang Hồng -Thành phố Vinh - Quá trình hình thành và phát triển (1804 – 1945), Nxb Nghệ An, 2003.

5. 6. 7. Bùi Dương Lịch -Nghệ An ký , sdd và Quốc sử quán triều Nguyễn -Đại Nam nhất thốn chí , Sdd.

8. Hoàng Văn Lân, Nguyễn Quang Hồng -Nguyên liệu xây thành Nghệ An dưới triều vua Minh mạng. Tạp chí Khoa học công nghệ và môi trường Nghệ An số 3 - 1997, tr 28 - 35.

9. Ninh Viết Giao –Thần tích, thần phả và tục thờ thần ở Nghệ An, Nxb Nghệ An, 2004.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Họp Đoàn đại biểu Liên hiệp Hội Việt Nam dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB ngày 20/4/2026 của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031, chiều ngày 8/5/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã tổ chức họp Đoàn đại biểu dự đại hội để triển khai thực hiện.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.