Lưu vực sông Lam nửa đầu thế kỷ XIX
Đây là đất tổ của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ - những người đứng đầu phong trào nông dân Tây Sơn và chính họ đã lật đổ nền thống trị của dòng họ Nguyễn trên phần đất Đàng Trong vào cuối thế kỷ XVIII. Mặc dầu Nguyễn Ánh đã xóa bỏ hoàn toàn vương triều Tây Sơn vào năm 1802 nhưng dòng họ Hồ ở Nghệ An nói riêng và nhiều dòng họ khác từng tận tâm ủng hộ, giúp đỡ phong trào nông dân Tây Sơn và vương triều Tây Sơn vẫn còn đó trên đất Nghệ An. Trấn Nghệ An có diện tích “Đông, Tây, Nam, Bắc đều cách nhau 500 dặm” (1), ngoài các phủ huyện ở đồng bằng và trung du còn có cả một vùng đất rộng mênh mông ở phía Tây dọc theo dãy Trường Sơn, đường xá đi lại khó khăn, dân cư thưa thớt, việc xác lập và củng cố vương quyền của dòng họ Nguyễn trên vùng đất ấy không phải dễ dàng.
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi trình bày một số chính sách, biện pháp mà các hoàng đế nhà Nguyễn đã thực thi ở trấn Nghệ An (1802 - 1830), tỉnh Nghệ An, tỉnh Hà Tĩnh (1831 - 1850) nhằm xác lập và củng cố vương quyền trên vùng đất rộng lớn ấy cũng như huy động mọi nguồn lực vật chất, tinh thần của cộng đồng cư dân xứ Nghệ vào việc xây dựng chế độ quân chủ ở nước ta.
Ngay sau khi lên ngôi hoàng đế, năm 1803, Gia Long thực hiện chuyến Bắc tuần lần thứ nhất nhằm ổn định tình hình Bắc Hà và nhận sắc phong của nhà Thanh tại thành Hà Nội. Trong chuyến Bắc tuần ấy, Gia Long quyết định chuyển dời lỵ sở trấn Nghệ An và trấn Thanh Hóa đi nơi khác.
“Dời lỵ sở trấn Nghệ An và trấn Thanh Hóa đi nơi khác. Trước là khi vua Bắc tuần (Gia Long bắc tuần vào tháng 8 năm Quý Hợi, 1803); ngày Quý Dậu xa giá đến Nghệ An, đóng ở hành cung Hà Trung, ngày Bính Tuất trú tại hành cung Nghệ An, ngày Tân Sửu xa giá từ Nghệ An ra Thanh. Xa giá đến lỵ sở hai trấn ấy (lỵ sở trấn Nghệ An cũ ở xã Dũng Quyết huyện Châu Lộc) bàn muốn dời di nơi khác, bèn trải xem địa đồ định lấy xã Thọ Hạc huyện Đông Sơn làm trấn lỵ Thanh Hóa, xã An Trường huyện Chân Lộc làm trấn lỵ Nghệ An..” (2).
Trong thời gian nghỉ tại hành cung Vĩnh Din (xã Vĩnh Yên, huyện Châu Lộc), vua Gia Long cho xây dựng lại miếu thờ Khổng Tử, chuẩn bị cho việc chuyển dời lỵ sở Nghệ An về vùng đất này (tại Công ty cổ phần in Nghệ An hiện nay). Tháng 5 năm sau (tức tháng 5 năm Giáp Tý, 1804), vua Gia Long xuống chiếu cho Tả quân Lê Văn Duyệt đốc suất việc xây thành, đắp lũy, dựng tạm nhà cửa bằng tranh tre nứa lá để chuyển dời lỵ sở Nghệ An từ Lam Thành – Phù Thạch về Vĩnh Yên và Yên Trường (tức Vinh ngày nay). Ngay sau đó công cuộc chuyển dời lỵ sở Nghệ An được tiến hành. Toàn bộ quan lại, quân đội cùng một số thương nhân Hoa Kiều từ Lam Thành – Phù Thạch chuyển về Vĩnh Yên và Yên Trường. Số thương nhân Hoa kiều định cư ngay phía nam trấn thành, sau lập thành “Phố Khách”, chuyên buôn bán vải vóc, tơ lụa, thuốc bắc, thu mua cánh kiến, sừng tê, ngà voi, da lông thú... (nay thuộc ngã tư chợ Vinh đi lên vườn hoa Cửa Nam , phường Hồng Sơn).
Trường thi Hương Nghệ An cũng được chuyển từ Lam Thành về Vĩnh Yên. Ngay trong khoa thi Hương ngạch văn đầu tiên tổ chức vào năm 1807, trường thi Hương Nghệ An dựng tạm bằng tranh nứa lá, nằm ở phía đông nam trấn thành, đã chính thức trở thành một trong năm trung tâm tuyển chọn hiền tài của cả nước. Thời Gia Long tổ chức ba kỳ thi Hương ngạch văn vào các năm 1807, 1813, 1819, riêng trường thi Hương Nghệ An cung cấp cho nhà Nguyễn 34 Hương Cống (Cử nhân) để bổ sung vào bộ máy quan lại của nhà Nguyễn.
Đến năm 1943 dưới thời vua Thiệu Trị, trường chuyển về địa phận thôn Yên Dũng Thượng (nay thuộc phường Trường Thi). Trường được xây dựng theo quy cách trường thi Hương ở phủ Thừa Thiên. Tường bao quanh được xây bằng đá ong và gạch, có chiều cao 4 thước 5 tấc, với chu vi 193 trượng. Trong trường có đủ các vị, giáp cho hàng ngàn sĩ tử dự thi và nhà cửa bằng gạch ngói kiên cố cho quan lại coi thi làm việc trong suốt thời gian diễn ra kỳ thi. Từ năm 1807 đến năm 1918,nhà Nguyễn tổ chức 47 kỳ thi Hương ngạch văn, riêng trường thi Hương Nghệ An tổ chức 42 kỳ thi kể cả ân khoa và chính khoa lấy đỗ 879 Hương cống và Cử nhân. Nếu tính riêng người Nghệ An có 571 vị đỗ cử nhân, nếu tính cả 24 vị người Nghệ An đỗ các trương thi khác thì tổng số Cử nhân ngạch văn người Nghệ An dưới thời Nguyễn là 595 vị, chiếm 1/8 tổng số Cử nhân ngạch văn của cả nước (3).
Ngay từ khi lên ngôi hoàng đế, Gia Long đã có ân điển cho trấn Thanh Hóa (quê tổ của dòng họ Nguyễn Phúc) và trấn Nghệ An, mỗi trấn một trường thi Hương riêng. Còn đối với các trấn thành khác, học trò từ ba, bốn trấn đến hợp thi chung một trường thi. Đặc ân này được nhà Nguyễn duy trì cho đến tận khoa thi Hương cuối cùng tổ chức vào năm 1918 (học trò Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh hợp thi chung tại trường Nghệ). Nhà Nguyễn thông qua trường thi Hương Nghệ An đã tuyển chọn được một đội ngũ trí thức đỗ đạt để bổ sung vào bộ máy quan lại nhà nước.
![]() |
Để xóa nốt mọi dấu tích liên quan đến vương triều Tây Sơn, trên đất Nghệ An, Gia Long cho tháo dỡ toàn bộ Trung đô Phượng hoàng thành (tức Thành Phượng Hoàng dưới chân núi Dũng Quyết) đang xây dựng dở dang cuối thế kỷ XVIII, lấy nguyên vật liệu xây dựng thành Nghệ An. Sùng Chính thư viện - nơi La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp dốc toàn bộ tâm huyết những mong đưa chữ Nôm lên địa vị độc tôn cũng bị tháo dỡ, hủy bỏ. Đỗ Bang, trong công trình Những khám phá mới về hoàng đế Quang Trungcó đề cập đến một số hành động trả thù của Gia Long đối với con cháu họ Hồ ở Thái Lão (Hưng Nguyên) - vốn được coi là quê tổ của Tây Sơn. Trong thời gian qua, mở rộng nghiên cứu trên địa bàn các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành, Hưng Nguyên, Nam Đàn... chúng tôi có thu được thêm một số chứng cứ khoa học liên quan đến nội dung trên. Điều đó cho thấy, ngay từ khi Gia Long nắm quyền điều hành đất nước, ông vua đầu tiên này buộc phải thực thi nhiều biện pháp trái ngược nhau nhưng mục đích cuối cùng là nhằm xác lập vương quyền của dòng họ Nguyễn ở lưu vực sông Lam.
Theo sổ đo đạc ruộng đất để tính thuế của Nhà Nguyễn, năm Gia Long thứ 18 (1918), trấn Nghệ An có 700.976 mẫu đất để tính thuế, với ngạch tô 90.876 hộc thóc, 143.006 quan tiền, 1.112 lạng bạc, với số đinh là 65.400 người (5), Theo Bùi Dương Lịch trong Nghệ An ký, dưới thời Gia Long mức thuế đối với cư dân Nghệ An là tương đối nhẹ: “Về phép đánh thuế buôn thì ở xã Bùi Xá, Lương Trường có sở thuế; thuế ở đây chỉ đánh 1/8 hoặc 1/10 thôi. Còn những sở ở các xã Hà Hoàng, Khu Độc Võ Liệt và Khả lưu đặc biệt chỉ khám xét người qua lại, chỉ mất tiền trình. Tuy cũng có lúc đặt người thu thuế, nhưng quan thuế thì nhẹ mà người thu cũng không thể hà lạm sách nhiễu được... (6).
Suốt 82 năm (1802 - 1883), trải qua bốn triều vua, nhà Nguyễn không có chính sách đắp đê để ngăn lũ lụt do sông Lam gây nên cũng như nạn triều dâng suốt từ biển Quỳnh Lưu đến Kỳ Anh, do đó, nhân dân dọc đôi bờ sông Lam và nhân dân vùng ven biển phải liên tục gánh chịu không biết bao hậu quả do lũ lụt và triều dâng gây nên. Quốc sử quán triều Nguyễn khi biên soạn Đại Nam thực lục chính biênđã ghi lại nhiều trận lũ lụt, mất mùa, đói kém, dịch bệnh xảy ra ở Nghệ An. Trong tình thế đó, việc nông dân làng xã ở lưu vực sông Lam thường nổi dậy khởi nghĩa là điều khó tránh khỏi và nhà Nguyễn luôn phải rơi vào tình trạng lúng túng là điều binh, khiển tướng đàn áp các cuộc khởi nghĩa, nhằm duy trì trật tự quân chủ trên vùng đất này.
Kế thừa vương nghiệp của vua cha, hoàng đế Minh Mạng đẩy mạnh việc củng cố vương quyền trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ vương quốc Đại Nam nói chung và trên vùng đất Nghệ an nói riêng. Đặc biệt là trong cuộc cải cách hành chính năm 1831 - 1832, vị hoàng đế này đã tách Nghệ An thành hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, nhưng mọi quyền hành trên vùng đất rộng lớn ấy vẫn thuộc tổng đốc An Tĩnh và mọi giấy tờ sổ sách đều mang chữ “Nghệ An tỉnh” (7). Chính trong cuộc cải cách táo bạo và triêt để này, hoàng đế Minh Mạng đã cho xây dựng lại thành Nghệ An với chu vi 630 trượng cùn với hàng tường thành vững chãi được xây dựng bằng đá ong Nam Đàn và đá sò phủ Diễn. Đó là chưa kể nhà Nguyễn còn huy động hàng vạn nhân công để đào hẳn cả một con sông nối liền từ thành Nghệ An đến sông Lam với nhiều đoạn gấp khúc, nhằm đưa nước vào hệ thống hào bao quanh thành và luôn giữ lượng nước ở trong hào ổn định (8).
Ngoài thành tỉnh Nghệ An, nhà Nguyễn còn cho xây dựng thành Sen (Hà Tĩnh) với chu vi 173 trượng, bằng gạch đá kiên cố. Phía Bắc, nhà Nguyễn cho xây dựng mở rộng và kiên cố hóa thành phủ Diễn Châu. Phía Tây, thành phủ Tương Dương và phủ Anh Đô cũng được mở rộng, xây dựng kiên cố, bố trí thêm binh lực nhằm dập tắt mọi sự nổi dậy chống đối của nhân dân. Theo thuật phong thủy, toàn bộ hệ thống thành lũy trên đất Nghệ An đều mở ba cửa: cửa tiền, cửa tả, cửa hữu, riêng cửa hậu luôn đóng kín (9). Sau cải cách hành chính của Minh Mạng, dưới quyền điều hành của Tổng đốc An Tĩnh, các Tri phủ, Tri châu, Tri huyện đến các chánh tổng, lý trưởng ở làng xã tiến xa thêm một bước trong việc quản lý đất đai, thuế khóa, nhân đinh... ở lưu vực sông Lam. Vương quyền của dòng họ Nguyễn càng ngày càng được củng cố và có một thực tế là từ những năm 20 - 30 của thế kỷ XIX trở đi, số học trò tham gia các kỳ thi Hương ở trường Nghệ ngày càng đông thêm. Đến giữa thế kỷ XIX, tại tỉnh thành Nghệ An có tới 4.000 - 5.000 sĩ tử lều chõng từ Quỳnh Lưu, Anh Sơn, Hương Sơn, Thạch Hà, Kỳ Anh... về dự.
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, từ thời Gia Long đến Minh Mạng, Thiệu Trị, để quản lý được vùng đất đai rộng lớn phía tây dọc theo dãy Trường Sơn mà nhà Nguyễn gọi là các “Châu phủ ki mi”, các hoàng đế nhà Nguyễn đã dựa vào các Lang đạo, Phìa tạo và các dòng họ có thế lực. Những nghiên cứu bước đầu của chúng tôi về các dòng họ Lương, Lang, Sầm, Vi, Hà, Cầm... thuộc các huyện Quỳ Châu, Tương Dương, Kỳ Sơn, Quế Phong, cho thấy nhà Nguyễn đã dành cho các dòng họ này nhiều quyền lợi về kinh tế và chính trị nhằm thu phục họ đứng về phía nhà Nguyễn. Dù rất cố gắng, song dường như các châu phủ ki mi vẫn chỉ lệ thuộc lỏng lẻo vào nhà Nguyễn và ở vùng rừng sâu núi thẳm đó, các dòng họ có thế lực và những Phìa tạo, Lang đạo, những Mo Môn, thầy cúng... mới thực sự là người quyết định về đời sống kinh tế, tinh hần của cư dân trong vùng chứ không phải là triều đình ở Phú Xuân.
Chú thích
1. Bùi Dương Lịch -Nghệ An ký, bản dịch của Viện Hán Nôm, Nxb KHXH, 1993.
2. Quốc sử quán triều Nguyễn -Đại Nam nhất thống trí, T2, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1992, phầnNghệ An tỉnh và Bùi Dương Lịch -Nghệ An ký , sdd.
3. 4. Nguyễn Quang Hồng -Thành phố Vinh - Quá trình hình thành và phát triển (1804 – 1945), Nxb Nghệ An, 2003.
5. 6. 7. Bùi Dương Lịch -Nghệ An ký , sdd và Quốc sử quán triều Nguyễn -Đại Nam nhất thốn chí , Sdd.
8. Hoàng Văn Lân, Nguyễn Quang Hồng -Nguyên liệu xây thành Nghệ An dưới triều vua Minh mạng. Tạp chí Khoa học công nghệ và môi trường Nghệ An số 3 - 1997, tr 28 - 35.
9. Ninh Viết Giao –Thần tích, thần phả và tục thờ thần ở Nghệ An, Nxb Nghệ An, 2004.









