Lớp toán Đại cương đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà
Niên học đầu tiên 1947 – 1948, lớp đóng tại xã Xuân La (nay là xã Xuân Lâm, NamĐàn), bên bờ tả ngạn sông Lam. Bên kia bờ là xã Tân Hợp có trường trung học Nguyễn Công Trứ. Văn phòng nhà trường vừa là nơi ăn, nghỉ của Hiệu trưởng vừa là nhà khách của ông Nguyễn Thạc Phi.
Khóa 1 chỉ có bốn sinh viên là các ông Nguyễn Trọng Di, Kỳ Quan Lập, Cung Quang Chươngvà Hà Văn Mạo. Đa số là giáo viên của trường Nguyễn Công Trứ.
Khoá 2 (1948 – 1949), lớp dời về xã Hùng Tiến, NamĐàn (cách Xuân La độ 4km về phía đông bắc). Giảng đường đặt tại nhà thờ họ ông Chắt Cừ. Khoá này số sinh viên có khoảng hơn mười người, trong đó có Nguyễn Văn Trương, Đinh Ngọc Lân, Đinh Phượng Sồ, Phạm Doãn Hân, Nguyễn Văn Ngọ, Phạm Hưng, Lê Nguyên Sóc, Nguyễn Quang Côn, Nguyễn Văn Phương, Hà Mạnh.
Khóa 3 (1949 – 1950) có Nguyễn Hữu Chinh, Trịnh Ngọc Thái, Nguyễn Tất Tê,…
Khóa 4 (1950 – 1951) có Nguyễn Đình Tứ, Nguyễn Văn Cung, Nguyễn Hoàng Phương, Hà Học Trạc, Vũ Ngọc Mai, Nguyễn Mậu Tùng, Lê Hải Châu.
Cuối mỗi khoá, Sở Giáo dục Liên khu IV tổ chức thi tốt nghiệp (thi viết và vấn đáp). Chánh chủ khảo là ông Phạm Đình Ái(Giám đốc Sở Giáo dục). Hội đồng chấm có GS. Nguyễn Thúc Hàovà GS. Đặng Phúc Thông(lúc đó là Giám đốc trường Giao thông Công chính, Thanh Hoá). Trụ sở Hội đồng tại Đền Vua Mai, cách thị trấn Nam Đàn gần 1km.
Từ năm 1951, tại Thanh Hoá, Bộ mở trường Sư phạm cao cấp, GS. Nguyễn Thúc Hàođược Bộ cử vào Ban Giám đốc nhà trường cùng với các GS. Trần Văn Giàu, GS. Đặng Thai Mai. Phần lớn các sinh viên của các lớp Toán đại cương lại gặp nhau ở trường đại học mới này.
Hồi đó chưa có hệ tại chức hoặc hàm thụ như bây giờ, nhưng ở Quảng Nam có anh thanh niên đậu tú tài, biết tin có lớp Toán Đại cương của thầy Hào, do chiến tranh không có điều kiện ra Nam Đàn thụ học, anh đã viết thư cho thầy xin tài liệu để tự học. Cuối khoá anh xin được dự thi tốt nghiệp. GS. Nguyễn Thúc Hàođã xin phép Bộ cho gửi đề thi niêm phong từ Nam Đàn vào Liên khu V. Sở Giáo dục Liên khu V mở kỳ thi riêng cho một thí sinh, thu bài cho vào phong bì gắn xi gửi ra cho Hội đồng chấm thi Liên khu IV (Hội đồng chấm thi chung cho cả khoá). Kỳ thi đó anh trúng tuyển. Anh thanh niên hiếu học ở Quảng Nam, sinh viên “hệ tại chức” của lớp Toán Đại cương của thầy Hào60 năm trước, rất quen thuộc và gần gũi với chúng ta, chính là GS. Hoàng Tụy, nhà toán học lớn của Việt Nam .
Nhắc lại chuyện ngày xưa đã hơn 60 năm rồi. Chúng ta, những người say mê toán thế hệ ngày nay, vô cùng biết ơn các bậc tiền bối đã gieo và vun xới những hạt mầm toán học trong một hoàn cảnh cực kỳ khó khăn. Đối với tôi, những sinh viên của lớp Toán Đại cương ngày xưa đều là những người thầy trực tiếp dạy tôi như thầy Di, thầy Châu, thầy Sồ, thầy Trương, thầy Sócdưới mái trường thời kháng chiến chống Pháp; thầy Tụy, thầy Phươngsau ngày hoà bình lập lại ở miền Bắc. Số còn lại tuy không được học trực tiếp nhưng họ vẫn là những người thầy của tôi.
Ngày nay, trên đất nước chúng ta, những hạt mầm toán họcngày xưa đã ra hoa, kết quả. Vườn cây toán học Việt Namngày một xum xuê, trong đó đã có những cây đại thụ.
Nhân ngày nhà giáo Việt Nam 20-11-2007, với tư cách là học trò cũ trong các năm 1956, 1957 của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tôi đến thăm và chúc mừng vợ chồng GS. Nguyễn Thúc Hào. Vị lão sư tuy đã ở tuổi 95, yếu và hình như nhỏ lại, nhưng trí tuệ còn minh mẫn. Nhắc đến chuyện xưa, thầy đọc hai câu thơ:
Xuân La, Hùng Tiến, NamĐàn
Có trường Đại học về làng từ đây.
Thật may mắn và tự hào cho quê hương chúng tôi, được vinh dự đón một lớp học đào tạo các nhà toán học đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về làng. Dân quê tôi lâu nay vẫn xem đó như là một Trường Đại học.
Nguồn: T/c Hoá học & Ứng dụng, số 4/2008








