Loét miệng
Hiện nay, y văn thế giới phân biệt ra 2 loại loét miệng là Aphthous ulcer (hay Canker sores) và Cold sores. Riêng Cold sores (major aphthous ulcerations) luôn được gây ra bởi một loại virus có tên Herpes simplex,có đường kính trên 10mm, luôn bắt đầu xuất hiện trên môi, kéo dài trên 2 tuần cho đến vài tháng và thường để lại sẹo khi lành. Phạm vi bài viết này chỉ đề cập đến loại loét miệng thường gặp là Canker sores (Minor aphthous ulcerations).
Triệu chứng
Thường khởi phát bởi cảm giác ngứa và bỏng rát ở niêm mạc môi, má hoặc lưỡi, kèm theo cảm giác cộm hoặc sưng nhẹ chỗ tổn thương. Sau đó vài ngày, xuất hiện vết loét có nền màu vàng nhạt, viền màu đỏ. Trong một số trường hợp có thể có sốt nhẹ và nổi hạch dưới hàm nên dễ lầm với đau răng.
Đau là triệu chứng điển hình và luôn xuất hiện khi bị loét miệng. Cảm giác đau thường kéo dài gây khó chịu cho người bệnh khi nói và khi nhai thức ăn, đặc biệt là thức ăn cay và mặn. Thường chỉ có 1 vết loét xuất hiện, nhưng trong một số trường hợp có thể có từ 2 vết loét trở lên và thường không để lại sẹo.
Nguyên nhân
Phần lớn nguyên nhân gây ra loét miệng thường không rõ.
Các nghiên cứu nhận thấy các chấn thương khoang miệng là nguyên nhân thường gặp nhất như cắn nhầm niêm mạc ở mặt trong má hay lưỡi, thức ăn quá cứng, bờ cứng sắc của hàm răng giả.
Ngoài ra, các nguyên nhân khác cũng được ghi nhận như:
- Thiếu dinh dưỡng, hoặc dinh dưỡng không đúng cách gây thiếu vitamin B12, chất kẽm, và axit folic.
- Các bệnh ở hệ tiêu hóa.
- Dị ứng thức ăn (hiếm).
- Chukỳ kinh nguyệt ở phụ nữ, thực chất là do thay đổi nội tiết tố nữ.
- Stress tâm lý cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh loét miệng.
- Vài loại thuốc có thể gây loét miệng như aspirin, thuốc kháng viêm, các chất thay thế nicotin dạng uống, rượu… ngoài ra, chất sodium lauryl sulfat, một trong những tá dược chính trong hầu hết các loại kem đánh răng đã được xem là có liên quan đến việc làm tăng tần suất loét miệng.
- Yếu tố gia đình đã được ghi nhận.
- Nhiễm trùng (thường gặp là vi khuẩn lao và giang mai), các loại nấm (Cryptococcus neoformans, Blastynomyces dermatitidis…).
- Ngoài ra, loét miệng cũng xuất hiện ở những bệnh nhân nhiễm HIV do làm rối loạn hệ miễn dịch, gây nhiễm trùng cơ hội các loại virus như herpes simplex, Herpes Zoster, Coxsackie A.
Điều trị
![]() |
Những cách tự điều trị và chăm sóc khác khi bị loét miệng.
Tránh các thức ăn có nhiều gia vị như cay, mặn, chay.
Nếu đau nhiều, có thể uống nước bằng ống hút. Không uống nước nóng.
Dùng bàn chải răng thật mềm.
Nếu có những triệu chứng sau xuất hiện thì tốt nhất nên đi khám bệnh vì có thể chúng là dấu hiệu của những bệnh khác nặng hơn:
- Vết loét phát triển lớn hơn một cách bất thường.
- Vết loét kéo dài trên 3 tuần.
- Không thể giảm đau bằng mọi cách.
- Sốt cao hoặc sốt vừa nhưng kéo dài.
Quan điểm của y học cổ truyền
Y học cổ truyền (YHCT) cho rằng lưỡi là mầm của tạng Tâm, miệng thuộc tạng Tỳ. Nếu miệng lưỡi bị lở loét là do bệnh Nhiệt. Tùy theo nguyên nhân gây bệnh mà YHCT gọi chứng loét miệng bằng nhiều tên gọi khác nhau như: Khẩu sương, khẩu mi, khẩu cam. Do đó, mỗi nguyên nhân sẽ có một cách biện luân khác nhau để đưa ra những bài thuốc khác nhau.
Một vài phương pháp điều trị theo y học dân gian sau đây có thể áp dụng ở gia đình giúp vết loét lành nhanh hơn:
+ Dùng muối hột (muối sống) cho vào ly nước sôi đánh tan muối rồi dùng tăm bông chấm nhiều lần lên chỗ loét (có thể thay bằng phèn chua).
+ Dùng lá Bồ ngót hoặc lá Me đất giã nhỏ, lấy nước cốt chấm lên chỗ loét nhiều lần trong ngày.
+ Hạt cau già ngâm nước sôi cho mềm, giã thật nhuyễn, bọc vải thưa sạch, chà sát nhiều lần vào chỗ loét. Có thể trộn thêm ít phèn chua. Sau mỗi lần bôi thì dùng mật ong chấm lên vết loét.
+ Đối với trẻ con bú, sau khi cho trẻ bú hay ăn và trước khi đi ngủ nên lau miệng lưỡi bằng nước muối loãng sẽ phòng ngừa được loét miệng.









