Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 10/04/2008 16:57 (GMT+7)

Lịch sự: Đi về đâu (Quo Vadis)

1. Khái niệm

Vấn đề lịch sự thực sự là gì cho đến nay vẫn tiếp tục là cội nguồn của những cuộc tranh biện giữa những nhà nghiên cứu “lão làng” và cả những người mới bắt đầu vào nghề. Có thể nói, đã có không ít những chứng cớ để khẳng định rằng, trong khi có những yếu tố cơ bản giống nhau, lịch sự vẫn được nhìn nhận và đánh giá khác nhau giữa các nền văn hoá. Nhiều nghiên cứu cũng đã nhận xét, lịch sự trong các nền văn hoá như nền văn hoá Anh chẳng hạn, chủ yếu đề cập đến việc biểu thị sự quan tâm đến những người khác thông qua cách ứng xử tinh tế và khéo léo. Thế nhưng, trong các nền văn hoá như văn hoá Nhật chẳng hạn, lịch sự lại được xem là sự kính trọng dành cho những người trên mình (về tuổi tác, quyền lực hay vị thế xã hội…) và đồng thời là sự khiêm nhường của bản thân. Trong khi lịch sự liên quan đến sự suy nghĩ tốt đẹp về người khác (lịch sự hướng ngoại) và không đánh giá quá cao về mình (lịch sự hướng nội), những khác biệt trong khái niệm hoá về lịch sự khác nhau. Do vậy nhiều nhà nghiên cứu, một mặt cho rằng, khó có thể tìm được một định nghĩa chung cho lịch sự giữa các nền văn hoá, mặc khác, cũng không thể nói giữa các nền văn hoá lịch sự không có cùng những yếu tố giống nhau. Trong bài viết này, chúng tôi cố gắng phác hoạ một bức tranh chung về lịch sự, nghĩa là điểm qua một cách ngắn gọn những gì đã được giới nghiên cứu quan tâm và khám phá; cả những thành công và cả những điều còn đang tranh cãi, với hi vọng giúp tìm hiểu thêm, và biết đâu lại hữu dụng đối với những người đang hoặc sẽ đi sâu nghiên cứu vấn đề này.

2. Những nhìn nhận về lịch sự (politeness)

Lịch sự (polite(ness)), trong hai nền văn hoá Đông và Tây, trong hai ba thập niên gần đây được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm cũng như khá nhiều định nghĩa và cách tiếp cận đã được đề xuất, nhưng những bất đồng về đối tượng nghiên cứu này ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp. Những bước tiến dài trong lĩnh vực nghiên cứu này vẫn chưa đủ sức để tìm được một định nghĩa, và một cách tiếp cận phổ quát thực sự đối với lịch sự trong các nền văn hoá khác nhau. Sự thực, trong khi một số nhà nghiên cứu tán thành cách tiếp cận này, thì một số nhà nghiên cứu khác lại ủng hộ một khung làm việc khác; một số nhà nghiên cứu khác nữa lại nghiêng về mô hình không giống với những gì vừa nêu… Chúng tôi chắc chắn rằng những cuộc tranh luận về lịch sự và những vấn đề liên quan sẽ vẫn chưa thể dừng lại, và các cách tiếp cận mới đối với lịch sự vẫn sẽ còn tiếp tục được đề xuất trong tương lai.

P. Brow và S. Levinsonđược chọn để giới thiệu đầu tiên không chỉ vì tư tưởng và cách tiếp cận lịch sự của hai ông đã có tầm ảnh hưởng vào bậc nhất, và được nhiều nhà nghiên cứu tiếp thu và tiếp tục phát triển. Và cũng còn là một lí do khác cũng rất đáng được nêu, đó là những phản bác và phê phán dẫn đến những cách nhìn nhận và tiếp cận mới làm sôi động và khơi rộng thêm lĩnh vực nghiên cứu cực kì thú vị và phức tạp này. Hai nhà nghiên cứu (1974, 1987) đã khẳng định rằng lịch sự, về mặt bản chất, là một hệ thống phức tạp nhằm làm giảm nhẹ các hành động đe doạ thể diện ( face - threatening acts). Và để sở hữu hoặc được coi là lịch sự, chiến lượctrong tương tác được xem là vấn đề sống còn. Brow và Levinson đã đưa ra năm chiến lược (five strategies) tương tác bằng ngôn ngữ và khẳng định rằng mô hình chiến lược này có tính ứng dụng phổ quát. Trong năm chiến lược này, bốn chiến lược được ngầm định là có mức độ giả định tăng dần, mặc dù có sự đa biến giữa các nền văn hoá, đặc biệt đối với chiến lược 2 và 3, hoặc nói cách khác, giữa lịch sự dương tínhlịch sự âm tính.

Một khái niệm mang tính công cụ khác là “ thể diện” (“face”), cái mà cả người nói lẫn người nghe luôn phải hợp tác để duy trì trong quá trình tương tác. Người nói phải tính toán, cân nhắc các mức độ de doạ thể diện của hành động ngôn trung mình định thực hiện để từ đó tìm cách giảm nhẹ mức độ đe doạ thể diện. Và “trái tim” thực sự của lí thuyết về lịch sự Brow và Levinson là công thức: Wx = D(S, H) + P(H, S) + Rx (1).

Cùng với sự đón nhận hồ hởi và sự ủng hộ lớn lao của giới nghiên cứu ở cả hai bán cầu Đông và Tây, không ít những phê phán không kém phần gay gắt lần lượt xuất hiện. Người ta phê phán về nhiều mặt, chẳng hạn cho rằng mô hình của Brow và Levinson thiên về văn hoá phương Tây, thậm chí nghiêng về các nền văn hoá “gốc Anh” (‘Anglo’), và do vậy không thể cho là mạng tính phổ quát giữa các nền văn hoá. Sự thiên về phương Tây này có thể dễ dàng tìm thấy ở nhiều cấp độ, chẳng hạn như người ta tuyên bố rằng định nghĩa của Brow và Levinson về lịch sự âm tính (negative politenness)xét từ góc độ thể diện âm tính (nagative face)thể diện dương tính (positive)chỉ có khả năng phản ánh đặc trưng nổi trội của nhu cầu thể diện (fave wants)mang tính cá nhân trong nền văn hoá gốc Anh - phương Tây (Anglo - Westeren). Đặc biệt người ta cho rằng việc Brow và Levinson chỉ chú ý chủ yếu đến đặc trưng cá nhân tuy phù hợp với nền văn hoá phương Tây, nhưng lại không thích hợp với nền văn hoá phương Đông nơi tính cộng đồng được đánh giá cao, đặc biệt đối với các nền văn hoá như Trung Quốc, Nhật Bản (Gu 1990, Mao 1994, Ide 1993, Matsumoto 1988, Wierzbicka 1991 [2003]). Khái niệm thể diện( ‘face’) (chia thành thể diện âm tính và dương tính) phát triển từ khái niệm thể diện của Goffman của hai nhà nghiên cứu này là không hữu dụng vì nó không phù hợp với khái niệm thể diện trong các nền văn hoá như Trung Quốc chẳng hạn, và nó cũng khác biệt với khái niệm nguyên thuỷ do Goffman đề xướng. Việc Brow và Levinson nhấn mạnh hành động đe doạ thể diện không những chỉ phù hợp ở một mức độ nào đó trong một số nền văn hoá cụ thể, mà nó còn gây ra một sự nhìn nhận “hoang tưởng” về xã hội phương Tây (‘paranoid’ view of western society) (Schmid, 1980: 104).

Không đồng tình với Brow và Levinson còn có nhiều tác giả khác, những người có cách nhìn nhận lịch sựtheo chiều hướng ngược lại. Baxter (1984) cho rằng, ở một vài bình diện nào đó, lịch sự dương tínhvượt trội so với lịch sự âm tính.Blem kulka (1987), và một số nhà nghiên cứu khác lại khẳng định rằng không thể nói các chiến lược nói xa(off - record strategies) có tính lịch sự cao nhất. Người ta cũng nghi ngờ luôn cả về tính “ chiến lược” trong chiến lược thứ nhất ( nói thẳng thừng - baladly on record) của hai nhà nghiên cứu này. Watts (2003: xii) đã nhận xét một cách khá bi quan rằng ông cảm thấy cô đơn và bị trôi dạt trong đại dương những nỗ lực mang tính thực nghiệm về lịch sự của Brow và Levinson và rằng ông đã liều lĩnh cố tìm một miền đất và một bến bờ an bình, thân thiện để buông neo. Và trong thực tế ông đã tìm được miền đất mong muốn dó vào năm 2001, khi đọc cuốn Phê bình các lí thuyết về lịch sự( A critique of politeness theories) của Gone Eelen.

Một nhà nghiên cứu đáng kính khác cũng để lại dấu ấn đậm nét trong nghiên cứu về lịch sự đó là R. Lakoff. Vào năm 1973, bà đã đưa ra ba quy tắc lịch sự (1) Không áp đặt (Don’t impose), (2) Trao quyền lựa chọn (give option),(3) Làm cho A cảm thấy thoải mái - tỏ ra thân thiện (Make A feel good - be friendly).Trong một nghiên cứu khác vào năm 1975, nhà nghiên cứu này nhận xét rằng, lịch sựđược xã hội tạo dựng lên nhằm giảm bớt sự va chạm trong tương tác của con người, và đến năm 1990 bà định nghĩa sự lịch sự là “ một hệ thống các mối quan hệ liên nhân được thiết kế nhằm hỗ trợ tương tác bằng cách tối thiểu hoá tiềm tàng của sự sung đột và đối kháng vốn thường tồn tại trong tất cả các cuộc trao đổi của con người” (“ a system of onterpersonal relations designed to factiltate interaction by minimizing the potential gor conflict and confrontation inherent in all human interchange”) (1990: 34). Trong một bài viết trình bày trước phiên toàn thể của hội thảo quốc tế về lịch sự tổ chức tại Bangkok vào năm1999 với tên gọi “ International symposium on linguistic politeness” Lakoff đã khuôn định bài viết của mình thông qua tên gọi “ Nho nhã và những phiền nhiễu: Hay là, tìm vào thể diện của bạn” (“ Civility and its discontents: Or, getting in your face”) cùng với ba câu hỏi nghiên cứu: 1) Tại sao lịch sự lúc này lại được thể hiện rõ ràng hơn lúc khác? (Why is politeness more salient at some times than others?)2) Người bình thường hiểu về lịch sự như thế nào? (How do normal people understand politeness?). Bà đã định nghĩa lịch sự là (“ một sự dâng hiến những dự định tốt lành” (“ an offering of good intentions”) và nho nhã là “ sự kìm nén những dự tính xấu xa”) (civility is “a withholding of bad ones”). Trong những nghiên cứu vào năm 2005, bà đã quan tâm khá sâu sắc vào những nguyên nhân làm thay đổi hệ thống lịch sự vốn lấy sự tôn kính làm nền tảng (deference - based politeness system) sang hệ thống lịch sự lấy tình bằng hữu làm cơ sở (camaraderie based system). Điều này đã nói lên rằng bà đã có những thay đổi khá sâu sắc trong cách nhìn nhận về lịch sự so với những gì được bàn luận cực kì sôi nổi ở thập niên 90.

Trong số những nhà khoa học đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu này không thể không nhắc đến Leech, Fraser, Nolen. Leech (1983 - 2002) xây dựng mô hình lịch sự trên lối nói hoa mĩ trong tương tác liên nhân và coi lịch sự là sự lảng tránh xung đột. Ông là tác giả của nguyên tắc lịch sự (politeness principle). Chức năng của nguyên tắc lịch sự là “… duy trì trạng thái cân bằng trong xã hội và các mối quan hệ thân tình mà nhờ đó giúp chúng ta luôn giả định rằng đối tượng tương tác đang hợp tác với chúng ta ở mức độ cao nhất” (“… to maintain the social equilibrium and friendly relations which enable us to assume that our interlocutors are being cooperative in the first place”). (p. 82). Trong một bài viết vào năm 2005 với tên gọi: “ Lịch sự: có chăng sự ngăn cách giữa Đông và Tây” (“ Politeness: Is there an East - West Divide”), Leech đã công bố lại quan điểm của mình về cách xử lí vấn đề lịch sự trong những nguyên lí về dụng học (principles of Pragmatics) mà ông đã đề xuất khá lâu trước đó, đồng thời tư duy lại về các phương châm của lịch sự, nâng cấp chúng thành đại chiến lược về lịch sự( grand strategy of politeness). Nội dung cơ bản của nó là để được coi là lịch sự, người nói biểu thị hoặc ngầm biểu thị sự đánh giá cao những gì thuộc về người khác (chủ yếu là người nghe), và hạ thấp giá trị những gì thuộc về bản thân (người nói). Sử dụng đại chiến lược này người nói luôn, như vẫn thường xảy ra, “cố hết sức” (“leaning over backwards”) để tránh sự bất đồng có thể xảy ra một khi hai bên dều theo đuổi mục đích riêng của mình thông qua ngôn ngữ. Lưu ý rằng Leech cũng đưa ra những khái niệm mới khác với những gì mà Brow và Levinson đã sử dụng, ví như pos - politeness, neg - politeness).

Fraser (1978), Fraser và Nolen (1981) lại trình bày một bình diện khác về lịch sử mà sau đó vào năm 1990 Fraser đã nâng lên thành hợp đồng hội thoại (conversational contract). Fraser tuyên bố: “ Khi bước vào một cuộc hội thoại cụ thể nào đó, mỗi một bên tương tác đểu mang theo một bộ các quyền hạn và trách nhiệm ban đầu có khả năng quyết định, ít nhất là đối với những giai đoạn mở đầu, những gì mà hai bên chờ đợi nhau. Trong tiến trình của cuộc hội thoại, hay do ngữ cảnh thay đổi, luôn luôn tồn tại một khả năng thương lượng cho một hợp đồng hội thoại; cả hai phía chỉ cần điều chỉnh lại những quyền hạn và trách nhiệm cao cho phù hợp với đối tượng cùng tham gia tương tác” (1990: 232).

Phần tiếp theo chúng tôi muốn giới thiệu một số tên tuổi những nhà khoa học khác, tuy uy tín về chuyên môn chưa thể so sánh ngang tầm với thế hệ đàn anh đàn chị, nhưng quan điểm và những cách tiếp cận mới trong lĩnh vực nghiên cứu này không thể bỏ qua.

Spencer - Oatey (2000) tiếp tục đưa ra khung làm việc với tên gọi “ sự khéo xử trong quan hệ” (“ rapport management”) để phân tích các hành vi trong tương tác xã hội. Quan điểm này loại trừ khái niệm thể diện âm tính(negative face) do Brow và Levinson khởi xướng, trong đó mỗi cá thể được xem như một thành viên riêng rẽ của một xã hội; thay vì, đặc tính nhóm xác định mỗi cá thể là một thành viên không thể tách rời của nhóm. Khái niệm “ lẽ phải liên hội” (“association rights”) đề cập đến sự tương tác xã hội là một hành vi thích hợp và sự khôn khéo trong ứng xử để có được mối quan hệ tốt đẹp, và điều này được cả hai bên tương tác cùng xây dựng căn cứ vào những đặc trưng văn hoá xã hội và một bộ khung đánh dấu những giả định của những người tham gia tương tác.

Scollon và Scollon (2001) đề xuất một mô hình tương tác xã hội nhằm giải thích cho sự thương lượng của các mối quan hệ về thể diện trong giao tiếp liên văn hoá (the negotiation of face relatitionships in intercultural communication). Những tác giả này đã chấp nhận thuật ngữ sự cuốn hút (involvement)để nhấn mạng “ nền tảng chung” (“common gound”), từ đó để cao quyền hạn và sự cần thiết của một người phải được coi là một thành viên bình thường, luôn tự biết đóng góp và giúp đỡ người khác trong cùng một xã hội” (2001: 46); sự cuốn hútđược thực hiện bởi các chiến lược như quan tâm đến người khác, khẳng định mình là thành viên của nhóm, gọi tên riêng của người tham gia giao tiếp, hoặc chứng tỏ rằng người nói có mối quan hệ gần gũi với người nghe. Trong khi đó, thuật ngữ sự độc lập( independence) lại được sử dụng để chỉ sự riêng rẽ của các bên tham gia tương tác. Sự riêng rẽ này được biểu thị bằng các chiến lược tối thiểu hoá những giả định, sử dụng các gọi tên trang trọng - nghi thức, chức danh, hay tạo cơ hội lựa chọn đối với người nghe.

Watt (2003) có lẽ là một trong số các nhà nghiên cứu thuộc thế hệ thứ ba (2) đáng được nói đến nhiều hơn cả, bởi lẽ ông là một trong những người đi tiên phong trong việc tìm ra một hướng đi mới. Ông đã giới thiệu khái niệm “ politic behanviour” (“ hành vi khôn khéo”), với ý nghĩa là một hành vi bằng lời hoặc không bằng lời được hai bên tham tương tác xây dựng và phù hợp cho sự tương tác xã hội đang xảy ra, và khái niệm này đã ảnh hưởng khá mạnh đến việc đưa ra một định nghĩa về lịch sự. Sự xây dựng mà Wattsnhắc tới có thể được tiến hành trước khi tương tác, nhưng luôn luôn có thể được thương lượng trong quá trình tương tác (2003: 30). Watts(2003, 2005) và Locher (2005) đề xuất một quan điểm rộng hơn về hành động vì thể diện (facework)với nội dung vượt tầm của các khái niệm hành vi phù hợp( appropriate behaviour) và hành vi lịch sự( polite behaviour). Hai nhà nghiên cứu này hi vọng khái niệm “ hành động vì quan hệ” (“ relational work”) sẽ phù hợp hơn có khả năng giải thích các tương tác xã hội một cách mạnh mẽ hơn. Khái niệm này đề cập đến sự thương lượng của các mối quan hệ thể diện trong tương tác. Nó bao gồm các bình diện tương tác xã hội đa dạng như trực tiếp (directnesss); gián tiếp (indirectness); hành vi phù hợp (appropriate behaviour), hành vi không phù hợp (inappropriate behaviour).

Watts, Ide và Ehlich cho rằng và cần thiết phải phân biệt rõ ràng hai kiểu lịch sự: lịch sựvới nghĩa thông thường hay lịch sự 1(first - order concept of politeness)và lịch sự mang tính lý thuyết hay lịch sự 2 (second – order concept of politeness). Nói cách khác, lịch sự 1, theo Watts(1992) và một nhà nghiên cứu khác, là một sự khái niệm hoá thông thường hay không mang tính chuyên môn về lịch sự. Tuy nhiên, Eelen (1999, 2001) lại đưa ra một nhận định trái ngược, đó là lịch sự không chỉ là một khái niệm mà người ta nói về, mà nó còn là một hiện tượng gắn kết không thể tách khỏi hành vi của họ. Lịch sự 1, do vậy, nhìn từ góc độ trực cảm nó là một hỗn hợp của lịch sự nhu một khái niệm không chuyên môn mà người nói nhận biết được một cách có ý thức, và lịch sự trong hành động được coi là ngầm ẩn chỉ có trong những thực hành có đặc tính suy ngẫm hay xem xét bằng cân nhắc, đánh giá, và do vậy đôi khi không nhất thiết phải nhận biết nó là một cách có ý thức (Eelen 2001; Ehlich 1992). Lịch sự 2, mặt khác là một kiến trúc lí thuyết, một thuật ngữ trong một khung lí thuyết về hành vi xã hội và sự sử dụng ngôn ngữ. Trong một vài trường hợp, lịch sự 2 được dán nhãn khác nhau, chẳng hạn như “ rapport management” (“ sự khéo xử trong quan hệ”) (Spencer - Oatey 2000); ‘ politic behaviour’ (hành vi khôn khéo) (Watts 1989 - 1992); “language diplomacy” (“ngôn ngữ ngoại giao”) (Obana và Tomada 1996) và v.v…, trong một nỗ lực nhằm phân biệt những khái niệm mang tính kĩ thuật và những khái niệm hoá không mang tính chuyên môn này.

Trong mục điểm sách viết về vấn đề lịch sự vào năm 2005 cùng với Ide và Ehlich, Watts đã tóm tắt một số nguyên lí cơ bản của cách tiếp cận lịch sự mà ông đã đề xuất từ năm 2003 được gọi là discursive approach,tạm hiểu là cách tiếp cận dựa trên sự phân tích các dữ liệu tương tác cụ thể,hay còn được gọi là phương pháp hậu kì hiện đại( postmodern approach). Ở đây thể hiện một quan điểm hoàn toàn khác với những gì trước đây vẫn thường hiểu về lịch sự. Theo ông, những nhà phân tích không nên theo đuổi lí thuyết về lịch sự mang tính phán đoán tiên nghiệm (a priori predictive theory of politeness), hay lí thuyết mang tính miêu tả hậu - thực tế (a post-facto descriptive theory of politeness), mà cần thiết phải quan tâm nhiều hơn đến việc những người tham gia tương tác nhận thức lịch sự như thế nào. Như vậy, thêm một lần nữa cùng với một số nhà khoa học khác, Wattskhẳng định rằng cần thiết phải đi sâu vào nội dung mang tính thực hành của thuật ngữ này. Cụ thể là, cách mà những người bình thường sử dụng, đánh giá và nhận thức nó trong cuộc sống và tương tác xã hội muôn màu muôn vẻ.

Những gì được nhắc đến trong bài viết này mới chỉ phản ánh được những nét chung nhất về những nghiên cứu về lịch sự trong khoảng ba thập niên lại đây. Còn nhiều vấn đề liên quan thú vị khác chưa được đề cập đến. Hi vọng trong những bài viết sau chúng tôi có thể đi sâu và chi tiết hơn về cách bình diện của lịch sự và cả về những cách tiếp cận khác cho đối tượng nghiên cứu này. Vấn đề cốt lõi nhất, theo chúng tôi, trước hết phải thống nhất được khái niệm về lịch sự, nghĩa là một khái niệm có tính phổ quát cho mọi nền văn hoá, sau đó hãy bàn đến những cách tiếp cận phù hợp. Để có thể thống nhất được khái niệm về lịch sự, chúng tôi cho rằng, khó có thể bỏ qua khái niệm mang tính dân gian về lịch sự và nó phải được gắn kết chặt chẽ với quá trình phát triển của một cộng đồng.

Tài liệu tham khảo

1. Brow, Pennelope and Levinson, Stephen (1978/ 1987). Politeness: Some university in language usage. Cambridge : CUP.

2. Eelen, Gino (2001). A critique of politeness theories. Manchester: St. Jerome ’s Press.

3. Haugh, Michael (2003). Politeness Implicature in Japanese A Metalinguistic Approach. Unpubished PhD dissertation, Universityof Queenland.

4. Lakoff, Robin (1973). The logic of politeness; or mind your p’s and p’s. Papern from the Ninth Regional Meeting of the Chicago Linguistic Society. Chicago: Chicago Linguistic Society. 292 – 305.

5. Lakoff, Robin (1990). Talking Power. New York : Basic Books.

6. Lakoff, Robin & Sachiko Ide, eds. (2005). Broadening the Horizons of Linguistic Politeness Amsterdam : John Benjamins.

7. Leech, Geoffrey (1983). Principle of Pragmatics, London : Longman.

8. Leech, Geoffrey (2005). Politeness: Is there an East - West divide? Journal of Foreing Languages (shanghai International Studies University ). 6: 3 - 30.

9. Locher, Mariman & Richard Watts (2005). Politeness Research 1,1: 9 - 33.

10. Spencer - Oatey, Helen (2000). Rapport management: a framework for analysis. In H. Spencer - Oatey (ed.), Culturally speaking: managing rapport through talk across cultures. London : Continuum. 11 - 46.

11. Spencer - Oatey, Helen (2005). ‘(im)Politeness, Face and Perceptions of Rapport: Unpacking their Bases and Interrelationships’, Journal of Politeness Researchm 1: 1, 95 - 119.

12. Terkourafi, Marina (2006). Review of Politeness. Journal of Pragmatics 38: 418 - 428.

13. Watts, Richard (2003). Politeness. Cambridge: Cambridge University Press.

14. Xie, C. (2007). Controversies about politeness. In M. Dascal & H. Chang (eds.), Traditions of Controversy. Amsterdam : John Benjamins.

15. Yabuuchi, A. (2006). Hierachy politeness: What Brow and Levinson refused to see. Intercultural Pragmatics 3 - 3: 323 - 351.

Nguồn: Ngôn ngữ & Đời sống, số 1 + 2 - 2008, tr 2

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh được trao tặng Huân chương Độc lập
Chiều ngày 3/4, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chủ trì buổi Lễ trao tặng các danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước. GS.VS. Châu Văn Minh, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Đảng ủy VUSTA đã được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Đây là phần thưởng cao quý ghi nhận những đóng góp đặc biệt xuất sắc của ông cho sự nghiệp khoa học và xây dựng đất nước.
Hội Tự động hóa Việt Nam tham dự CMES Shanghai 2026, tăng cường kết nối giao thương quốc tế
Từ ngày 23 đến 26/3/2026, tại Thượng Hải, Trung Quốc, Triển lãm Quốc tế Máy công cụ và Công nghệ chế tạo CMES Shanghai 2026 đã diễn ra sôi động, thu hút sự tham gia của đông đảo doanh nghiệp và chuyên gia trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, tự động hóa và sản xuất thông minh trên toàn cầu.
Công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ
Sáng 1/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ đối với 5 cơ quan. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự hội nghị. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao các quyết định và phát biểu ý kiến chỉ đạo.
Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo
Chiều 30/3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dự lễ trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ.
Đổi mới công tác tư vấn, phản biện: “Chìa khóa” để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
Giới chuyên môn nhận định, chuyển đổi số và AI sẽ tạo bước đột phá cho công tác tư vấn, phản biện nhờ sự giao thoa giữa trí tuệ chuyên gia, sức mạnh dữ liệu cùng các công cụ phân tích hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn phản biện hiện chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết phải làm chủ các nền tảng số và phương pháp phân tích hiện đại để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn.
Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”
Ngày 27/3/2026, tại Trường Đại học Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”. Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, Trường Đại học Hải Phòng, Đại học Phenikaa, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đồng tổ chức.
Phú Thọ: Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày 28/3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.