Lễ cưới truyền thống của người M’nông
Người M’nông tin rằng thần linh có tác động tốt hoặc xấu đến cuộc sống của họ. Vì vậy cúng thần linh là công việc thường xuyên trong mọi gia đình, bon làng M’nông. Người M’nông cúng thần linh để cầu mong được khỏe mạnh, làm ăn dễ dàng, cuộc sống bình yên, hạnh phúc. Việc cầu khấn thần linh của người M’nông có thể quy vào hai hệ thống nghi lễ chính: nghi lễ nông nghiệp và nghi lễ vòng đời người.
Nghi lễ vòng đời của người M’nông chủ yếu có các nghi lễ như: cúng sinh đẻ, lễ sáng mắt, lễ đặt tên, lễ trưởng thành, lễ cưới, lễ tang… Trong nghi lễ này nổi bật lên tính nhân văn, niềm kinh sợ trước nguy cơ phá vỡ vòng tuần hoàn trường tồn của giống nòi, kèm theo một số tập tục cực kỳ nghiệt ngã.
Hôn nhân của người M’nông được tiến hành qua những bước cơ bản sau: lễ chọn người yêu, lễ dạm hỏi, lễ đính hôn và cuối cùng là lễ cưới. Để đi đến lễ cưới, theo truyền thống của người M’nông, phải trải qua nhiều nghi lễ khác nhau.
1. Các nghi lễ trước khi cưới
Có nhiều cách để trai gái tìm hiểu nhau. Dưới đây là một số cách nam nữ tìm hiểu nhau trước khi tiến hành lễ cưới.
Cha mẹ đính hôn cho con: Hai gia đình thân nhau thường hứa hôn và đính hôn cho con. Mặc dù con mình còn nhỏ hoặc mới sinh, bậc cha mẹ ước con mình cưới vợ cưới chồng được chỗ thân quen cho có tình cảm hơn. Lễ đính hôn hoặc hứa hôn chỉ tốn một con gà và một ché rượu. Hai bên cha mẹ bưng rượu mời nhau để hứa hôn cho con, hứa khi con lớn sẽ tổ chức làm đám cưới cho chúng. Lễ hứa hôn diễn ra giữa hai gia đình rất đơn giản, nhưng rất tình cảm và gắn bó sâu sắc. Do vậy, về sau con mình không tâm đầu ý hợp thì cha mẹ hai bên rất khó giải quyết, có khi phạt nhau bằng con lợn, con trâu và bắt bồi thường danh dự bằng chiêng, bằng ché khi con mình cưới chồng, cưới vợ khác. Bên nào cưới vợ gả chồng cho con trước thì bên đó phải chịu đền, chịu phạt. Chuyện phạt đền ảnh hưởng cả đến gia đình cha mẹ của chàng trai cũng như của cô gái. Lễ phạt này ít nhất phải một con lợn to, một ché rượu và ba cái ché; nếu phạt to thì phải chém trâu, đền bồi từ ba đến sáu cái ché to (một cái ché có giá trị bằng một con trâu sừng bằng một gang tay). Việc này bây giờ hầu như không còn ở các vùng cư dân M’nông.
Con trẻ tự tìm hiểu nhau: Con trai, con gái tự tìm hiểu nhau, dù đã yêu nhau tha thiết cũng không giám thổ lộ cho cha mẹ vì sợ bị cha mẹ khiển trách. Bậc cha mẹ thấy con mình quen nhau thì phải có trách nhiệm bàn bạc với nhau giữa hai bên để tiến hành lễ hỏi và đi đến lễ cưới, nếu để lâu con trẻ quan hệ với nhau có thai sẽ là tai họa cho cả hai phía gia đình và cả cộng đồng bon làng.
Con trai con gái tự quan hệ với nhau mang thai hoặc chưa mang thai cũng phải cúng xóa trước khi tiến hành lễ hỏi và lễ cưới. Nếu quan hệ với nhau chưa mang thai thì chỉ cần cúng hai con lợn và hai ché rượu. Lễ này nhà trai cúng cho phía nhà gái và ngược lại nhà gái cúng cho nhà trai, tiếp đó tiến hành lễ hỏi và lễ cưới như bình thường. Nếu trai gái quan hệ với nhau đã mang thai thì ngoài hai con lợn và hai ché rượu cúng cho gia đình hai bên thì còn phải mất một con lợn cúng cho dân làng và phải chém một con trâu để cúng xóa cho đất làng rồi sau đó mới tiến hành lễ hỏi và lễ cưới như bình thường. Nếu không làm đủ lễ cúng xóa này thì sẽ không được làm lễ cưới. Nếu chưa làm lễ cúng xóa, vợ chồng của cô gái mang thai phải làm chòi ở trong rừng cho đến khi sinh nở xong chém một con trâu cúng đất nơi sinh đẻ rồi mới được về sống trong làng như cũ.
Lễ hỏi: Để tiến hành lễ ăn hỏi, theo truyền thống của người M’nông phải chuẩn bị nhiều lễ vật, gồm: một con lợn, một ché rượu, một cái ché, một tấm váy dệt, một con dao, một chiếc lao, một chiếc vòng đeo tay, một xâu hạt cườm đeo cổ, một cái lược chải tóc bằng sừng trâu, một cây kẹp tóc bằng đồng có kết lông chim (chủ yếu là lông chim công). Bên nhà gái phải có một ché rượu và một con gà để đáp lễ khi nhà trai tới ăn hỏi.
Bên nhà trai mang lễ vật đến nhà gái. Chính tay cô gái nhận lễ vật và hứa trước mặt cha mẹ hai bên và các già làng sẽ luôn chung thủy với chồng. Sau đó tiến hành lễ cúng: dùng máu lợn hòa với nước rượu đầu phết cúng thần linh, hồn tổ tiên, thần lúa, thần đá bếp, thần hòn than, thần cửa nhà. Sau đó khấn mời thần rừng núi, thần suối, thần sông đến uống rượu. Khi uống rượu thì cha mẹ bên nhà trai uống trước, tiếp đó là con trai con gái uống theo, cha mẹ bên gái uống theo rồi đến các già làng uống. Sau lễ hỏi phải thử thách ít nhất một năm, bình thường là ba năm sau mới được tiến hành lễ cưới chính thức.
2. Lễ cưới
Thông thường lễ cưới truyền thống của người M’nông được tiến hành hai lần, lễ cưới lần thứ hai cách lễ cưới lần thứ nhất 8 ngày, lễ cưới thứ nhất tổ chức tại nhà gái, lễ cưới thứ hai tổ chức tại nhà trai. Khi vợ về nhà chồng còn tổ chức thêm lễ cưới lần thứ ba.
Tổ chức lễ cưới lần thứ nhất tại nhà gái
Vật lễ cưới bên nhà trai chịu gồm một con lợn hoặc một con trâu, ba ché rượu, hai cái ché. Vật lễ cưới bên nhà gái chịu gồm một con lợn (nếu bên nhà trai giết con trâu), Nếu bên nhà trai giết lợn thì bên nhà gái chỉ làm gà. Ngoài ra bên nhà gái còn phải chịu gạo đãi khách trong suốt thời gian lễ cưới cộng với một gùi gạo nếp và hai ché rượu.
Thời gian tiến hành lễ cưới thường bắt đầu vào lúc gần tối. Họ giết lợn hoặc trâu, xẻ thịt nấu nướng. Con vật dùng trong lễ cưới do bên nhà gái giết, thịt được chia làm ba phần, một phần cho bên nhà gái để chia phần cho bà con không đến dự lễ, một phần giao cho bên nhà trai để chia phần cho bà con không đến dự lễ cưới, một phần thịt và bộ lòng để nấu ăn trong lễ cưới. Làm thịt các con vật, nấu nướng sẵn rồi bưng hai ché rượu đã được nhét lá và đổ nước đầy ché, cha mẹ hoặc người đỡ đầu của hai bên mời các già làng của hai bên cùng cầu khấn mời các thần đến dự lễ và ban sự tốt lành cho đôi vợ chồng mới cưới được trọn đời hạnh phúc, yên lành và làm ăn phát đạt, sinh con khỏe mạnh và nuôi dạy con tốt. Trong lúc cầu khấn đôi vợ chồng trẻ ngồi bên cạnh ché rượu, dùng tay phải cầm cần ché rượu cho đến khi cha mẹ và các già làng cầu khấn xong thì hai vợ chồng mới được nếm rượu. Hai vợ chồng mới cưới nếm rượu xong giao cần rượu cho cha mẹ hoặc người đỡ đầu bên nhà trai uống trước. Cha mẹ nhà trai uống bốn ống rồi đưa cho đôi vợ chồng mới cưới uống bốn ống. Hai vợ chồng uống xong mời cha mẹ hoặc người đỡ đầu bên nhà gái uống, sau đó mời các già làng uống rồi đến lần lượt mọi người tham gia lễ cưới.
Sau khi cha mẹ hai bên, các già làng và mọi người uống xong ché rượu thứ nhất thì tiến hành lễ cưới chính thức. Lễ cưới chính thức gồm có một ché rượu nhỏ, một con gà nướng. Ché rượu cột trong buồng dành cho hai vợ chồng mới cưới ngủ. Ché rượu này chỉ có bố mẹ hai bên và một số già làng tiêu biểu của hai bên được uống (thanh niên nam nữ chưa có vợ có chồng không được uống). Trong lúc đó bên nhà trai phải bưng một ché rượu cho nam nữ thanh niên và mọi người đến dự lễ cưới uống.
Cha mẹ hoặc người đỡ đầu và già làng của hai bên cầu khấn mời các thần đến dự để chứng kiến lễ cưới. Cầu khấn xong mời hai vợ chồng nếm rượu, hai vợ chồng nếm xong mời già làng của hai bên uống hai ống, sau đó mời hai vợ chồng cùng uống. Trong khi hai vợ chồng đang uống, cha mẹ hoặc một già làng làm thủ tục lễ cưới chính thức bằng cách dùng chiếc khăn hoặc tấm chăn trùm lên đầu của hai vợ chồng mới cưới lúc đang uống rượu. Hai vợ chồng phải uống đủ bốn ống rượu, sau đó đến cha mẹ và các già làng cùng uống. Cha mẹ và các già làng vừa uống rượu vừa lần lượt giáo dục đôi vợ chồng trẻ về cách ăn ở, làm ăn để xây dựng gia đình hạnh phúc. Làm xong lễ cưới chính thức này mời đôi vợ chồng ăn thịt và cơm nếp. Bên nhà trai mời bên nhà gái ăn mỗi người một miếng thịt, bên nhà gái mời bên nhà trai ăn mỗi người một miếng cơm nếp. Thịt và cơm nếp không phải dọn mâm, mà chỉ đưa bằng chén. Tiếp đó người vợ mới cưới tặng đồ vật cho bên nhà chồng, tặng cho cha mẹ bên chồng một tấm váy và một chiếc khố, tặng cho các thành viên trong gia đình chồng mỗi người một xâu cườm đeo cổ. Sau khi thực hiện xong các nghi lễ, họ tiếp tục ăn uống, vui chơi, các thanh niên đánh chiêng, gõ cồng vui chơi đến sáng.
Các già làng đi ngủ, sáng hôm sau bên nhà gái trả lễ. Nhà gái bưng một ché rượu, làm thịt một con lợn hoặc một con gà để trả lễ cho bên nhà trai, làm các lễ cầu khấn thần linh và thủ tục uống rượu như hôm trước. Cuối cùng bên nhà gái đưa cho bên nhà trai một gùi gạo nếp, nhà trai giao lại cho nhà gái hai cái ché để làm chứng cho lễ cưới. Họ tiếp tục ăn uống đến trưa, rồi bên nhà trai ra về, hai vợ chồng mới cưới ở lại bên nhà gái, bên nhà trai hẹn ngày mời bên nhà gái đến dự lễ cưới thứ hai tại nhà trai.
Lễ cưới thứ hai được tổ chức tại nhà trai.
Nếu đủ điều kiện thì tổ chức cách 8 ngày sau lễ cưới bên nhà vợ, nếu không đủ điều kiện thì để lâu hơn cũng được nhưng người vợ không được ngủ bên nhà chồng cho đến khi làm lễ cưới lần hai xong người vợ mới được về ngủ tại nhà chồng. Vật lễ cưới đợt hai gồm một con lợn và một ché rượu do bên nhà chồng chịu, bên nhà vợ chỉ chịu cơm nếp.
Cách tiến hành lễ cưới thứ hai cũng như lễ cưới thứ nhất: mời họ hàng hai bên, một số già làng và người dân trong bon đến dự lễ cưới. Về lễ cúng: báo cho thần trong nhà như thần nkuắt (giá trị tương tự như bàn thờ của người Kinh), thần hồn lúa, thần hòn than, thần đá bếp và thần giữ cửa nhà; báo cho các thần biết là từ nay có thêm một người phụ nữ qua lại, ăn, ngủ tại nhà này và báo với các thần biết là hai vợ chồng mới cưới ở bên nhà vợ chỉ thi thoảng mới về đồng thời xin các thần phù hộ cho hai vợ chồng. Về phần thịt lợn vẫn được chia và nấu ăn như lễ cưới thứ nhất. Về uống rượu thì cha mẹ chồng uống trước rồi đến đôi vợ chồng trẻ và sau đó mới đến bố mẹ vợ và những người bà con khác.
3. Sau khi cưới
Trong một số trường hợp, theo tập tục cổ truyền của người M’nông, có thể tổ chức lễ cưới thứ ba. Lễ này được tổ chức bên nhà vợ. Người có đủ điều kiện mua vợ, dẫn vợ con về ở bên nhà chồng thì sau khi đã nộp đủ của cải cho bên nhà vợ thì được phép tổ chức lễ cưới thứ ba để đưa vợ về ở hẳn bên nhà mình. Trước khi dẫn vợ về nhà mình, người chồng phải làm lễ từ giã nhà vợ và bà con bên vợ. Lễ cúng này gồm một con trâu và một ché rượu để cúng khấn các thần trong nhà như các thần tổ tiên, thần lúa, thần đá bếp, thần hòn than và thần cửa nhà; báo cho các thần biết là hai vợ chồng sẽ ra khỏi nhà này để về ở bên nhà chồng và xin các thần phù hộ cho hai vợ chồng và các con được bình an. Thịt cũng được phân chia và nấu nướng như hai lễ cưới trước. Về uống rượu: cha mẹ bên chồng uống trước rồi đến hai vợ chồng và tiếp đó đến cha mẹ vợ và bà con dòng họ. Của cải đem đến làm lễ đưa vợ về nhà mình nhà trai phải nộp đầy đủ ngay trong lễ cưới thứ ba.
Trên đây là một số nét cơ bản về lễ cưới theo nghi thức cổ truyền của người M’nông. Tuy nhiên, hiện nay do những yếu tố khách quan và chủ quan nên lễ cưới của cộng đồng người M’nông đã có những biến đổi. Đứng trước thực trạng đó thiết nghĩ các ngành chức năng và các cơ quan hữu quan cần phải có những biện pháp tích cực nhằm lưu giữ được những giá trị văn hóa truyền thống của người M’nông, đồng thời loại bỏ những điểm không phù hợp để góp phần vào việc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Nguồn: T/c Văn hóa Nghệ thuật, số 11/2007, tr 95








