Lao đường tiêu hóa một dạng lao ngoài thường gặp
Nói đến bệnh lao, người ta hay nghĩ đến lao phổi. Nhưng vi trùng lao có thể qua đường máu đi đến các cơ quan khác và gây bện lao hạch , lao da, lao xương, lao thận, lao sinh dục, lao màng não,… Ngoài đường lây hô hấp, vi trùng lao còn có thể lây bằng đường tiêu hóa, gây bệnh lao ruột, lao màng bụng.
Có ba dạng lao đường tiêu hóa
- Sơ nhiễm: người có thể bị nhiễm lao qua thức ăn, qua sữa bò tươi không được đun sôi kỹ vắt từ những con bò bị nhiễm lao; trước đây người ta nghĩ rằng tổn thương đầu tiên ở thành ruột, nhưng thực tế là từ hạch mạc treo rồi từ đó lan vào thành ruột, một số trường hợp vi khuẩn lao có thể theo đường máu đến màng bụng. Tổn thương sơ nhiễm là hạch sưng và dính lại với nhau. Nếu hạch vỡ, nhiễm trùng sẽ lan vào ổ bụng. Nếu hạch viêm dính vào ruột có thể gây tắc ruột.
- Thứ phát: khi bệnh lao phổi ho nhưng không khạc ra mà nuốt đàm có chứa vi khuẩn lao. Thành ruột sẽ bị nhiễm lao và loét, có thể gây lỗ rò ruột – bàng quang. Nhiễm lao cũng có thể lan vào ổ bụng và gây tràn dịch màng bụng.
- Laohồi manh tràng tăng sảnlà một dạng hiếm gặp.
Khi có những biểu hiện sau đây nên nghĩ đến lao đường tiêu hóa:
- Sút cân, kém ăn.
- Đau bụng (thường không rõ ràng), sốt, đổ mồ hôi về đêm, tiêu chảy.
- Sờ bụng thấy có một hay nhiều mảng hơi cứng. Thường có kèm theo tràn dịch trong bụng (cổ trướng); nếu dịch quá nhiều, không sờ thấy những mảng này thì dấu hiệu tràn dịch là chủ yếu. Trong lao hồi– manh tràng. bệnh nhân đau vùng hố chậu phải và sờ thấy đám hơi cứng; cần phân biệt với viêm ruột thừa có biến trứng đám quánh vì hai cách điều trị khác nhau (viêm ruột thừa phải mổ cấp cứu, còn lao thì dùng hóa trị liệu). Ngoài ra, có thể chỉ có một mảng cứng đơn thuần, dễ bị nhầm với ung thư ruột.
- Tắc ruộtgây đau bụng, trướng bụng, bí trung đại tiện.
- Ho và khạc đàmkhi có lao phổi đồng thời (thể thứ phát).
Cần làm thêm một số xét nghiệm để xác định bệnh :
- Công thức máu: tế bào bạch cầu trung tính tăng trong các trường hợp viêm cấp tính như viêm ruột thừa.
- Chụp X quang ruột.
- Sinh thiết hạch hoặc màng bụng qua nội soi và đem xét nghiệm mô bệnh học.
- Nuôi cấy dịch màng bụng hoặc mủ từ lỗ rò.
- Phản ứng da với tuberculin (phản ứng Mantoux): Tổ chức y tế Thế giới khuyến cáo chọn vùng da ở 1/3 trên mặt trước cánh tay (vì mặt sau thường có nhiều lông). Quy định tiêm ở cánh tay trái để tránh nhầm lẫn khi đọc kết quả, sát trùng da và để khô da trước khi test, tiêm trong da (không phải dưới da) 0.1ml tương đương 2 đơn vị tuberculin. Đọc kết quả sau 3 ngày, nếu có một cục cứng ở da với đường kính trên 10mm là phản ứng dương tính, chung quanh cục cứng này là phần quầng đỏ nhưng phần này không quan trọng. Đường kính càng lớn phản ứng càng mạnh nghĩa là càng có nhiều khả năng mắc bệnh lao, nhưng đây chỉ là một điểm để chuẩn đoán. Đối với trẻ em, phản ứng dương tính mạnh là yếu tố chuẩn đoán rất có giá trị, đặc biệt nếu trẻ còn nhỏ.
Tuy nhiên, phản ứng âm tính không loại trừ được bệnh lao. Một bệnh nhân mắc lao có thể hoạt động có thể test âm tính vì nhiều yếu tố như: suy dinh dưỡng, nhiễm HIV, nhiễm virut (sởi, thủy đậu, bệnh tay chân miệng…) ung thư, nhiễm khuẩn nặng (kể cả nhiễm lao nặng), dùng các thuốc ức chế miễn dịch như corticosteroid.
Điều trị lao đường tiêu hóa bằng thuốc theo phác đồ hóa trị liệu có hiệu quả cao, không sờ thấy những mảng cứng ở bụng, nhưng đôi khi để lại di chứng là sẹo hoặc dính ruột, có thể gây tắc ruột, phải can thiệp bằng phẫu thuật; nếu có dịch nhiều trong ổ bụng, phải chọc hút.
Nguồn: Thuốc và sức khỏe, 328, 15-3-2007, tr 8








