Làm giàu từ sa mạc bằng nghề nuôi dông
Trong những năm gần đây, nền kinh tế thị trường phát triển, con dông được các chủ nhà hàng, quán nhậu, cho “lên dĩa” để chiều lòng các “thượng đế”. Nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, người dân đua nhau đi đào, bẩy bắt dông khắp mọi nơi, dông lớn, dông bé, dông đực, dông cái …. đều bị bắt tất, từ đó con dông trở nên khan hiếm và có nguy cơ bị tuyệt chủng .
Trước thực trạng nêu trên, người dân ở vùng Hòa Thắng - Hồng Phong nảy sinh ý tưởng bắt dông tự nhiên về nuôi thử. Thời gian đầu, do không có kinh nghiệm chăm sóc, tài liệu hướng dẫn kỹ thuật không có, nên tỉ lệ dông sống và sinh trưởng phát triển thấp, thất thoát do dông sổng chuồng chạy ra ngoài nhiều dẫn đến hiệu quả kinh tế không cao. Và rồi nghề dạy nghề, qua quá trình theo dõi tập tính sinh sống của con dông, rút kinh nghiệm từ thực tiễn, người dân đã sử dụng các loại rau như rau muống, rau lang, vỏ dưa băm trộn với cám gạo để cho dông ăn . Có đủ thức ăn nên dông lớn nhanh sau 8 tháng đến 1 năm có thể đạt từ 3-5con/kg, cá biệt có con đạt từ 0,5 – 0,7 kg (Hộ ông Nhân ở xã Hòa Thắng ) và tỉ lệ dông bò ra ngoài chuồng để kiếm thức ăn gây thất thoát cũng được khắc phục, do chuồng nuôi được củng cố bằng cách xây tường cao từ 1,5 – 1,8 m và sâu xuống đất từ 1-1,2 m, mặt trong của tường nhẵn để tránh dông bò ra ngoài. Ông Nguyễn Chiến là nông dân ở xã Hoà Thắng, huyện Bắc Bình, cũng là người đang trực tiếp nuôi dông, cho biết sau khi trừ tất cả mọi chi phí thì mỗi sào (1000 m 2) cho thu lãi ít nhất là hơn 20 triệu đồng/năm, như vậy mỗi ha đất cát hoang hóa sẽ mang về cho nông dân trên 200 triệu đồng/năm. Vấn đề mà người dân ở đây quan tâm là làm sao chủ động được về con giống nhằm giúp họ an tâm vì hiện tại tất cả các hộ nuôi dông đều thu mua giống nhỏ lẽ, bắt từ tự nhiên hoặc lấy giống từ các khu đang nuôi, với số lượng ít và kích cỡ con giống không đồng đều . Thả giống như vậy sẽ dẫn đến tình trạng dông lớn ăn thịt dông bé gây thất thoát lớn.
Tại hội thảo “Đánh giá triển vọng nuôi thuần dưỡng con dông ở vùng đất cát huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận” do Trung tâm khuyến khích phát triển kinh tế xã hội vùng duyên hải miền trung (SeDec) tổ chức vào ngày 14/12/2007, ông Nguyễn Lân Hùng, một chuyên gia đầu ngành về sinh học và là Tổng Thư ký Hội các ngành sinh học Việt Nam, cho biết: Nghề nuôi dông là một nghề khá mới mẻ, mang lại hiệu quả kinh tế cao, đòi hỏi vốn đầu tư không lớn, cách nuôi đơn giản, thức ăn dễ kiếm, mặt khác, giá trị dinh dưỡng của thịt dông rất cao và lại là món ăn khoái khẩu của rất nhiều người, đặc biệt là những du khách khi đến tham quan nghỉ mát ở Mũi Né, Phan Thiết thì “chưa ăn được món thịt dông là chưa về”. Do đó việc tiêu thụ sẽ rất dễ dàng (Với giá hiện nay là từ 140.000 – 180.000 đ/kg, mà không có đủ để mà bán ). Chính vì vậy, nghề nuôi dông cần được phổ biến rộng rãi cho người dân, nhằm giúp nông dân sống ở những ở vùng sa mạc hoang hóa thoát được cái nghèo và từng bước vươn lên làm giàu. Ngoài ra, việc nuôi dông còn có ý nghĩa bảo vệ, phục hồi nguồn gen qúy hiếm đang có nguy cơ bị tuyệt chủng ở vùng đất này, đồng thời đây cũng là nghề hỗ trợ đắc lực cho chương trình chống sa mạc hóa mà chính phủ ta đang đặc biệt quan tâm .








