Lại nói về bệnh tả
Tả là một bệnh nhiễm khuẩn cấp, có thể lây thành dịch và đại dịch, do vi khuẩn tại ruột non của người, gây ra tiêu chảy phân nước ồ ạt dẫn đến mất nước và chất điện giải trầm trọng, gây suy thận cấp và có thể tử vong nếu không được điều trị kịp thời; từ khi có Oresol tỷ lệ tử vong do tả đã giảm rõ rệt. Vi khuẩn tả có hai sinh týp là cổ điển và Eltor. Dựa vào cấu tạo kháng nguyên O, người ta đã phân loại trên 200 týp huyết thanh, trước đây chỉ phát hiện týp O 1 gây bệnh, hiện nay có thêm týp O 139 gây bệnh.
Trong lịch sử nhân loại đã có 7 trận đại dịch tả, cứ qua mỗi trận dịch, những nghiên cứu về bệnh tả lại được sâu thêm:
- Đại dịch thứ nhất từ năm 1817 đến 1823, dịch tả được ghi nhận lần đầu tiên ở lưu vực sông Hằng (Ấn Độ).
- Đại dịch thứ hai từ năm 1824 đến 1837, lan tràn ở châu Âu và Mỹ. Tác giả O’Shaughnessy ghi nhận: trong phân bệnh nhân tả chứa nhiều natri và bicarbonat. Latta nhận thấy bệnh nhân phục hồi tốt khi được bù nước bằng truyền dịch.
- Đại dịch thứ ba từ năm 1844 đến 1864.
- Đại dịch thứ tư từ năm 1864 đến 1875, nhà dịch tễ học John Snow xác định dịch bệnh lây lan qua nước, loại trừ giả thuyết bệnh tả do ô nhiễm không khí từ khói nhà máy.
- Đại dịch thứ năm từ năm 1883 đến 1896, nhà vi trùng học Robert Koch phân lập được vi khuẩn tả Vibrio choleratại Ai Cập năm 1884.
- Đại dịch thứ sáu từ năm 1900 đến 1926, phát hiện ra sinh týp mới trên bệnh nhân ở trại cách ly Eltor – bán đảo Sinai, Ai Cập – có tính chất sinh hóa khác với sinh týp cổ điển trước đây của vi khuẩn tả, nên người ta đặt tên sinh týp mới là Eltor. Nhóm nghiên cứu ở Ấn Độ chứng minh vai trò gây bệnh của độc tố choleratoxin.
- Đại dịch thứ bảy từ năm 1961 đến nay, do V. cholerasinh týp Eltor gây ra, khởi phát tại Indonesia. Xác định vai trò quan trọng của Oresol trong điều trị bù nước và chất điện giải. Nhận thấy có vi khuẩn Bibrio trong tự nhiên ở vùng vịnh Mexico . Năm 1992, trong trận dịch tại vùng vịnh Bengal- Ấn Độ, do V. cholerasinh týp Eltor gây ra, người ta phát hiện ra týp huyết thanh mới, khác với týp O 1, là týp O 139 hay cũng gọi là týp O Bengal. V. choleratýp O 139 thay thế hoàn toàn týp O 1, gây tử vong cho cả những người đã có miễn dịch với týp O 1.
![]() |
Nếu phân vi khuẩn tả bị thải ra nước kênh rạch, sẽ là nguồn duy trì mầm bệnh giữa các vụ dịch |
- Giai đoạn trong nước:phân của bệnh nhân tả bị thải ra hồ ao sông ngòi, vi khuẩn sống tự do, tạo ra lớp màng biofilm bao bọc xung quanh và bám vào bề mặt các loại thực vật sống trong nước như rong, tảo, rau, cỏ… và các loài động vật thân cứng sống trong nước như cua, sò, ốc… vi khuẩn tồn tại ở dạng này trong một thời gian dài, dạng này đem cấy không mọc nên khó phát hiện.
- Giai đoạn trong người:khi vào cơ thể người, môi trường sống của vi khuẩn có những thay đổi về nhiệt độ, về sinh hóa, các yếu tố gây độc lực được hoạt hóa, vi khuẩn phát triển, tiết độc tố gây bệnh và lan tràn thành dịch. Khi phân người bệnh tả không được sát trùng, thải trực tiếp ra hồ ao, vi khuẩn lại sang chu kỳ mới, quay về giai đoạn trong nước, cho đến khi lọt vào cơ thể người khác.
Vì khuẩn V. cholerakhông sống được trong cơ thể súc vật, không gây bệnh tả cho súc vật, người là nguồn lan truyền bệnh duy nhất, bao gồm người bệnh chưa dùng kháng sinh diệt trùng và người lành mang mầm bệnh, tình trạng vi khuẩn ẩn náu trong túi mật chờ dịp gây bệnh rất hiếm.
Vì số lượng vi khuẩn gây bệnh rất cao nên đường lây quan trọng nhất là từ nước uống hay thức ăn được chế biến bằng nước có nhiễm khuẩn hay thức ăn từ các loại cua, sò, ốc… chưa được nấu chín kỹ.
Bệnh xuất hiện theo mùa, ở Việt Nam bệnh thường xảy ra vào mùa nắng, liên quan đến tình trạng thiếu nước sạch và dùng thức ăn không đảm bảo vệ sinh.
Sau khi nhiễm khuẩn V. cholera, miễn dịch tạo thành bao gồm kháng thể chống vi khuẩn và kháng thể chống độc tố. Miễn dịch sau nhiễm V. choleraO 1 sinh týp cổ điển bảo vệ chống tái nhiễm với cả 2 sinh týp cổ điển và Eltor, nhưng sau khi nhiễm V. cholera O 1 sinh týp Eltor, chỉ được miễn nhiễm với chính V. cholera O 1 sinh týp Eltor mà thôi, không được bảo vệ với V. choleraO 1 sinh týp cổ điển. Cũng không có bảo vệ chéo giữa hai týp huyết thanh O 1 và O 139, nghĩa là nếu đã nhiễm V. choleratýp O 1 thì lần sau nếu bị nhiễm V. choleratýp O 139 vẫn mắc bệnh tả.
Để phòng bệnhcần theo đúng sự hướng dẫn của Bộ Y tế. Tả là một bệnh dịch nguy hiểm nên khi thấy có tiêu chảy, cần đến bệnh viện ngay để được chữa theo đúng phác đồ.









