Kỹ thuật tiết kiệm nước tưới và phân bón cho lúa xuân
Tưới nước cho lúa xuân
Tưới nước đối với đất chua mặn: Đối với loại đất này thường xuyên phải để một lớp nước ngập 3 đến 15cm trên ruộng tuỳ theo thời kỳ sinh trưởng của cây lúa. Không được để ruộng cạn quá 6 giờ. Vì khi cạn nước, chất chua mặn sẽ leo lên tầng đất canh tác làm hư bộ rễ lúa. Nên thay nước (thau chua rửa mặn) vào những giai đoạn sinh trưởng quan trọng của cây lúa. Cách tưới cụ thể như sau:
Từ cấy đến hồi xanh, làm cỏ bón thúc đợt 1(10 đến 15 ngày sau cấy tuỳ vụ): Tưới nông 3 đến 5cm. Sau khi bón phân thúc đợt 1, để lắng 1 đến 2 ngày thay nước mới, tưới nông 3 đến 5 cm, có tác dụng kích thích lúa đẻ nhánh.
Sau khi bón thúc đợt 1 khoảng 10 đến 20 ngày, tưới ngập 12 đến 15cm trong 20 ngày để hạn chế đẻ nhánh vô hiệu. Giai đoạn làm đòng, trỗ chính cần tưới ngập 3 đến 5cam bằng nước ngọt. Khoảng 30 đến 40 ngày thay nước một lần bằng nước ngọt mới để thau chua rửa mặn cho ruộng lúa.
Tưới nước cho vùng nước ngọt: Giai đoạn từ cấy đến khí bén rễ hồi xanh, bón thúc đợt 1 (khoảng 15 đến 20 ngày): Tưới ngập 2 đến 3cm để chống rét cho lúa cấy. Sau khi bón thúc đợt 1 khoảng 1 đến 2 ngày tháo cạn nước để độ ẩm bão hoà (là độ ẩm mà ta giẫm cảm thấy mềm chân - độ ẩm đạt 90 đến 100% độ ẩm đất), lúa sẽ đẻ nhánh hữu hiệu tập trung, hạn chế bệnh nghẹt rễ sinh lý. Chú ý nếu giai đoạn này nhiệt độ thấp hơn 13°C kéo dài trên 5 ngày, cho nước ngập 5 đến 7 cm để chống rét, qua đợt rét ta lại tháo cạn.
Sau khi kết thúc đẻ nhánh hữu hiệu (sau bón thúc đợt 1 khoảng 10 đến 15 ngày), để cho ruộng cạn nứt chân chim (độ ẩm khoảng 70%) trong 7 đến 10 ngày để quá trình oxy hoá trong tầng đất canh tác diễn ra thuật lợi, các khí độc được trung hoà, các loại phân vô cơ, hữu cơ được vi sinh vật háo khí phân giải từ dạng khó tiêu sang dễ tiêu, rễ lúa có đủ oxy, khoẻ, ăn được sâu, hút được nhiều dinh dưỡng.
Các giai đoạn làm đòng đến chín đỏ đuôi chỉ cần tưới đủ ẩm (độ ẩm 90 đến 100%) là được. Từ chín đỏ đuôi đến chín hoàn toàn cần kho nứt chân chim, cho cây lúa cứng cây chống đổ.
Nếu ta điều tiết được nước tưới như cách trên có thể tiết kiệm được 40 đến 50% lượng nước. Sâu rầy, bệnh khô vằn, bệnh nghẹt rễ sinh lý giảm hẳn. Tiết kiệm được 20% lượng phân bón do cây lúa tận dụng được triệt để lượng phân (được vi sinh vật phân huỷ tốt).
Bón phân cho lúa xuân
Bón phân hữu cơ (phân chuồng, phân bắc, phân xanh): Trong vụ chiêm xuân do nhiệt độ không khí thấp (nhất là ở miền Bắc) nên quá trình phân giải chất hữu cơ của vi sinh vật diễn ra chậm chạp. Nếu bón phân hữu cơ hoai mục sau 5 đến 7 ngày rễ lúa hút được, còn bón phân chuồng, phân xanh tươi phải sau 40 đến 60 ngày rễ cây mới hút được. Vì thế tốt nhất ta nên ủ phân hữu cơ hoai mục trước khi bón cho lúa xuân.
Trường hợp không có phân hữu cơ hoai mục, nếu bón bằng phân chuồng tươi thì không nên bón quá 5 tạ/sào (360m 2 ). Đặc biệt đối với chân ruộng không được ải hoặc chân ruộng thường xuyên ngập nước, do trong đất yếm khí có nhiều chất độc nên tuyệt đối không bón phân chuồng tươi cho loại đất này vì dễ gây bệnh nghẹt rễ sinh lý cho lúa, nên bón thúc bằng phân chuồng hoai mục vào các giai đoạn sau.
Bón phân khoáng đa, trung, vi lượng: Nếu bón đạm và kali dưới dạng phân đơn, trong điều kiện nóng ẩm, mưa nhiều của nước ta, thì lượng phân bị thất thoát sẽ rất lớn (do rửa trôi trên bề mặt, rửa trôi theo chiều sâu và bị oxy hoá mất khoảng 60 đến 80%). Đối với phân lân supe, lượng dân dễ tiêu khoảng 20% bị ion sắt (Fe 2+ ), nhôm (Al 2+ ) kết tủa thành dạng khó tiêu mất trên 50%. Thực tế cây lúa sử dụng được rất ít (20 đến 40% tuỳ loại phân và cách bón), thời gian sử dụng ngắn, chỉ được khoảng 15 đến 20 ngày sau khi bón. Bón phân tổng hợp NPK của các nhà máy sản xuất phân bón lớn, đảm bảo chất lượng (Nhà máy supe phốt phát Lâm Thao, lân Văn Điển, Apatit Lào Cai…). Do các loại phân này có chất phụ gia giữ phân lâu tan trong nước nên thời gian sử dụng được lâu, khoảng 30 đến 40 ngày sau bón. Mặt khác phân tổng hợp NPK ít bị ion trong đất làm kết tủa, hiện tượng rửa trôi và ôxy hoá diễn ra chậm nên hiệu suất sử dụng phân cao (tỷ lệ phân được cây hấp thu: 60 đến 70%) do đó bón các loại phân này cho lúa rất kinh tế.
Đối với các loại đất chua (độ pH < 5,5) nên bón phân có tính kiềm như NPK của nhà máy Văn Điển hoặc Apatit Lào Cai cho hiệu quả cao. Các loại đất trung tính, kiềm nhẹ có độ pH: 6 đến 7 nên bón phân có tính axit như NPK của lân Lâm Thao sản xuất. Nếu là đất chua phải đãi vôi trước 5 đến 7 ngày khi bón loại phân này.
Bón phân khoáng căn cứ vào thành phần hoá học và tính chất cơ lý của từng loại đất :
Đối với đất cát, cát pha bạc màu ở vùng trung du, Bắc Bộ, duyên hải miền Trung có thành phần cơ giới nhẹ, chủ yếu là cát, chất keo và mùn trong đất thấp, khả năng giữ phân kém, thường là chua (độ pH: 4,5 đến 5,5)… nên bón đạm, lân, kali với tỷ lệ 1N: 1P 2 O 5 ,: 1K 2 O (tính theo hàm lượng đạm, lân, kali nguyên chất). Cần bón vôi mỗi năm một lần vào vụ xuân (18 đến 20 kg/sào 360m 2), bón thúc phân khoáng làm 2 đến 3 lần, phun phân vi lượng cho lúa 2 đến 3 lần/vụ cho hiệu quả kinh tế cao.
Đối với đất thịt, đất phù sa, thành phần dinh dưỡng, hàm lượng mùn, lượng keo trong đất khá hơn, độ pH 5,5 đến 6,5. Bón phân khoáng với tỷ lệ 1N: 0,5 đến 0,7P 2 O 5 : 0,5 đến 0,7% K 2 O. Nên bón thúc 1 đến 2 lần.
Đối với đất lầy thụt, đất thường xuyên ngập nước, thường chua, giàu đạm tổng số và dễ tiêu, nghèo lân, kali, thiếu một số nguyên tố vi lượng. Cần bón thêm vôi, lân, kali, vi lượng và giảm lượng đạm cho loại đất này. Bón N:P:K tỷ lệ 0,3 đến 0,5N: 1P 2 O 5 : 1K 2 O.
Bón thúc cho lúa xuân còn căn cứ vào tình hình sinh trưởng cụ thể của cây lúa. Nhiều nơi nhất là ở Đồng bằng sông Cửu Long, bà con nông dân đã được tiếp cận với “bảng so màu lá lúa”, trước đợt bón phân, dùng bảng này so sánh với màu sắc của lá lúa hiện tại, kết quả sẽ ứng với thiếu loại phân nào cần phải bón. Nếu không có bảng so màu ta có thể dựa vào màu sắc của lá lúa một cách tương đối theo kinh nghiệm để quyết định lượng phân, loại phân bón thúc kịp thời cho lúa.
Bóng thúc đòng (trước trổ bông 30 đến 32 ngày) là quan trọng nhất đối với đa số các loại đất trồng (bón đợt này quyết định số hạt trên bông): Nếu lá lúa xanh vừa đến xanh vàng ta bón đạm và kali theo tỷ lệ 1N: 1 đến 2K 2 O (1 đến 2 kg đạm + 1 đến 4 kg kali/sào). Lá lúa xanh đậm là thừa đạm, thiếu kali, bón 4 đến 5 kg kali/sào, không được bón đạm. Bón sao cho khi lúa trổ bông, lá lúa có màu xanh vàng lá gừng là đạt yêu cầu.
Về lượng phân khoáng bón cụ thể cho lúa thì phải tuỳ từng loại đất, từng giống lúa (giống lúa chịu thâm canh nhiều hay ít) mà bón. Với lượng như sau (tình cho 1 sào Bắc Bộ): đạm urê 7 đến 12kg; kaliclorua 5 đến 12kg; lân super 15 đến 25kg. Với hàm lượng phân bón đơn chất này ta có thể quy đổi sang NPK nguyên chất (thành phần N trong phân urê 46%; thành phần K 2 O trong phân kaliclorua 60%; thành phần P 2 O 5 trong supe lân 20%) và thay bằng phân bón tổng hợp NPK cho hiệu quả kinh tế hơn. Ví dụ, bón lót bằng phân NPK (5:10:3) lượng 20 đến 30 kg; thúc đợt 1 bằng phân NPK (30:10:10) lượng đến 20kg; thúc đòng NPK (12:2:12) lượng 10 đến 20kg.
Nguồn: Khoa học và đời sống, số 15 (1733), ngày 21/2/2005








