Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 27/01/2006 15:23 (GMT+7)

Kỹ thuật tiết kiệm nước tưới và phân bón cho lúa xuân

Tưới nước cho lúa xuân

Tưới nước đối với đất chua mặn: Đối với loại đất này thường xuyên phải để một lớp nước ngập 3 đến 15cm trên ruộng tuỳ theo thời kỳ sinh trưởng của cây lúa. Không được để ruộng cạn quá 6 giờ. Vì khi cạn nước, chất chua mặn sẽ leo lên tầng đất canh tác làm hư bộ rễ lúa. Nên thay nước (thau chua rửa mặn) vào những giai đoạn sinh trưởng quan trọng của cây lúa. Cách tưới cụ thể như sau:

Từ cấy đến hồi xanh, làm cỏ bón thúc đợt 1(10 đến 15 ngày sau cấy tuỳ vụ): Tưới nông 3 đến 5cm. Sau khi bón phân thúc đợt 1, để lắng 1 đến 2 ngày thay nước mới, tưới nông 3 đến 5 cm, có tác dụng kích thích lúa đẻ nhánh.

Sau khi bón thúc đợt 1 khoảng 10 đến 20 ngày, tưới ngập 12 đến 15cm trong 20 ngày để hạn chế đẻ nhánh vô hiệu. Giai đoạn làm đòng, trỗ chính cần tưới ngập 3 đến 5cam bằng nước ngọt. Khoảng 30 đến 40 ngày thay nước một lần bằng nước ngọt mới để thau chua rửa mặn cho ruộng lúa.

Tưới nước cho vùng nước ngọt: Giai đoạn từ cấy đến khí bén rễ hồi xanh, bón thúc đợt 1 (khoảng 15 đến 20 ngày): Tưới ngập 2 đến 3cm để chống rét cho lúa cấy. Sau khi bón thúc đợt 1 khoảng 1 đến 2 ngày tháo cạn nước để độ ẩm bão hoà (là độ ẩm mà ta giẫm cảm thấy mềm chân - độ ẩm đạt 90 đến 100% độ ẩm đất), lúa sẽ đẻ nhánh hữu hiệu tập trung, hạn chế bệnh nghẹt rễ sinh lý. Chú ý nếu giai đoạn này nhiệt độ thấp hơn 13°C kéo dài trên 5 ngày, cho nước ngập 5 đến 7 cm để chống rét, qua đợt rét ta lại tháo cạn.

Sau khi kết thúc đẻ nhánh hữu hiệu (sau bón thúc đợt 1 khoảng 10 đến 15 ngày), để cho ruộng cạn nứt chân chim (độ ẩm khoảng 70%) trong 7 đến 10 ngày để quá trình oxy hoá trong tầng đất canh tác diễn ra thuật lợi, các khí độc được trung hoà, các loại phân vô cơ, hữu cơ được vi sinh vật háo khí phân giải từ dạng khó tiêu sang dễ tiêu, rễ lúa có đủ oxy, khoẻ, ăn được sâu, hút được nhiều dinh dưỡng.

Các giai đoạn làm đòng đến chín đỏ đuôi chỉ cần tưới đủ ẩm (độ ẩm 90 đến 100%) là được. Từ chín đỏ đuôi đến chín hoàn toàn cần kho nứt chân chim, cho cây lúa cứng cây chống đổ.

Nếu ta điều tiết được nước tưới như cách trên có thể tiết kiệm được 40 đến 50% lượng nước. Sâu rầy, bệnh khô vằn, bệnh nghẹt rễ sinh lý giảm hẳn. Tiết kiệm được 20% lượng phân bón do cây lúa tận dụng được triệt để lượng phân (được vi sinh vật phân huỷ tốt).

Bón phân cho lúa xuân

Bón phân hữu cơ (phân chuồng, phân bắc, phân xanh): Trong vụ chiêm xuân do nhiệt độ không khí thấp (nhất là ở miền Bắc) nên quá trình phân giải chất hữu cơ của vi sinh vật diễn ra chậm chạp. Nếu bón phân hữu cơ hoai mục sau 5 đến 7 ngày rễ lúa hút được, còn bón phân chuồng, phân xanh tươi phải sau 40 đến 60 ngày rễ cây mới hút được. Vì thế tốt nhất ta nên ủ phân hữu cơ hoai mục trước khi bón cho lúa xuân.

Trường hợp không có phân hữu cơ hoai mục, nếu bón bằng phân chuồng tươi thì không nên bón quá 5 tạ/sào (360m 2 ). Đặc biệt đối với chân ruộng không được ải hoặc chân ruộng thường xuyên ngập nước, do trong đất yếm khí có nhiều chất độc nên tuyệt đối không bón phân chuồng tươi cho loại đất này vì dễ gây bệnh nghẹt rễ sinh lý cho lúa, nên bón thúc bằng phân chuồng hoai mục vào các giai đoạn sau.

Bón phân khoáng đa, trung, vi lượng: Nếu bón đạm và kali dưới dạng phân đơn, trong điều kiện nóng ẩm, mưa nhiều của nước ta, thì lượng phân bị thất thoát sẽ rất lớn (do rửa trôi trên bề mặt, rửa trôi theo chiều sâu và bị oxy hoá mất khoảng 60 đến 80%). Đối với phân lân supe, lượng dân dễ tiêu khoảng 20% bị ion sắt (Fe 2+ ), nhôm (Al 2+ ) kết tủa thành dạng khó tiêu mất trên 50%. Thực tế cây lúa sử dụng được rất ít (20 đến 40% tuỳ loại phân và cách bón), thời gian sử dụng ngắn, chỉ được khoảng 15 đến 20 ngày sau khi bón. Bón phân tổng hợp NPK của các nhà máy sản xuất phân bón lớn, đảm bảo chất lượng (Nhà máy supe phốt phát Lâm Thao, lân Văn Điển, Apatit Lào Cai…). Do các loại phân này có chất phụ gia giữ phân lâu tan trong nước nên thời gian sử dụng được lâu, khoảng 30 đến 40 ngày sau bón. Mặt khác phân tổng hợp NPK ít bị ion trong đất làm kết tủa, hiện tượng rửa trôi và ôxy hoá diễn ra chậm nên hiệu suất sử dụng phân cao (tỷ lệ phân được cây hấp thu: 60 đến 70%) do đó bón các loại phân này cho lúa rất kinh tế.

Đối với các loại đất chua (độ pH < 5,5) nên bón phân có tính kiềm như NPK của nhà máy Văn Điển hoặc Apatit Lào Cai cho hiệu quả cao. Các loại đất trung tính, kiềm nhẹ có độ pH: 6 đến 7 nên bón phân có tính axit như NPK của lân Lâm Thao sản xuất. Nếu là đất chua phải đãi vôi trước 5 đến 7 ngày khi bón loại phân này.

Bón phân khoáng căn cứ vào thành phần hoá học và tính chất cơ lý của từng loại đất :

Đối với đất cát, cát pha bạc màu ở vùng trung du, Bắc Bộ, duyên hải miền Trung có thành phần cơ giới nhẹ, chủ yếu là cát, chất keo và mùn trong đất thấp, khả năng giữ phân kém, thường là chua (độ pH: 4,5 đến 5,5)… nên bón đạm, lân, kali với tỷ lệ 1N: 1P 2 O 5 ,: 1K 2 O (tính theo hàm lượng đạm, lân, kali nguyên chất). Cần bón vôi mỗi năm một lần vào vụ xuân (18 đến 20 kg/sào 360m 2), bón thúc phân khoáng làm 2 đến 3 lần, phun phân vi lượng cho lúa 2 đến 3 lần/vụ cho hiệu quả kinh tế cao.

Đối với đất thịt, đất phù sa, thành phần dinh dưỡng, hàm lượng mùn, lượng keo trong đất khá hơn, độ pH 5,5 đến 6,5. Bón phân khoáng với tỷ lệ 1N: 0,5 đến 0,7P 2 O 5 : 0,5 đến 0,7% K 2 O. Nên bón thúc 1 đến 2 lần.

Đối với đất lầy thụt, đất thường xuyên ngập nước, thường chua, giàu đạm tổng số và dễ tiêu, nghèo lân, kali, thiếu một số nguyên tố vi lượng. Cần bón thêm vôi, lân, kali, vi lượng và giảm lượng đạm cho loại đất này. Bón N:P:K tỷ lệ 0,3 đến 0,5N: 1P 2 O 5 : 1K 2 O.

Bón thúc cho lúa xuân còn căn cứ vào tình hình sinh trưởng cụ thể của cây lúa. Nhiều nơi nhất là ở Đồng bằng sông Cửu Long, bà con nông dân đã được tiếp cận với “bảng so màu lá lúa”, trước đợt bón phân, dùng bảng này so sánh với màu sắc của lá lúa hiện tại, kết quả sẽ ứng với thiếu loại phân nào cần phải bón. Nếu không có bảng so màu ta có thể dựa vào màu sắc của lá lúa một cách tương đối theo kinh nghiệm để quyết định lượng phân, loại phân bón thúc kịp thời cho lúa.

Bóng thúc đòng (trước trổ bông 30 đến 32 ngày) là quan trọng nhất đối với đa số các loại đất trồng (bón đợt này quyết định số hạt trên bông): Nếu lá lúa xanh vừa đến xanh vàng ta bón đạm và kali theo tỷ lệ 1N: 1 đến 2K 2 O (1 đến 2 kg đạm + 1 đến 4 kg kali/sào). Lá lúa xanh đậm là thừa đạm, thiếu kali, bón 4 đến 5 kg kali/sào, không được bón đạm. Bón sao cho khi lúa trổ bông, lá lúa có màu xanh vàng lá gừng là đạt yêu cầu.

Về lượng phân khoáng bón cụ thể cho lúa thì phải tuỳ từng loại đất, từng giống lúa (giống lúa chịu thâm canh nhiều hay ít) mà bón. Với lượng như sau (tình cho 1 sào Bắc Bộ): đạm urê 7 đến 12kg; kaliclorua 5 đến 12kg; lân super 15 đến 25kg. Với hàm lượng phân bón đơn chất này ta có thể quy đổi sang NPK nguyên chất (thành phần N trong phân urê 46%; thành phần K 2 O trong phân kaliclorua 60%; thành phần P 2 O 5 trong supe lân 20%) và thay bằng phân bón tổng hợp NPK cho hiệu quả kinh tế hơn. Ví dụ, bón lót bằng phân NPK (5:10:3) lượng 20 đến 30 kg; thúc đợt 1 bằng phân NPK (30:10:10) lượng đến 20kg; thúc đòng NPK (12:2:12) lượng 10 đến 20kg.

Nguồn: Khoa học và đời sống, số 15 (1733), ngày 21/2/2005

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.