Kỹ thuật nuôi cá rô phi vằn dòng GIFT
Đặc điểm
Là loại cá nước ngọt, nhưng chúng có thể sống được và phát triển trong môi trường nước lợ, mặn có độ muối tới 32 phần nghìn, thích hợp từ 0 – 25 phần nghìn, ưa nhiệt độ, khả năng chịu nhiệt từ 14 - 40°C. Nhiệt độ thích hợp cho cá phát triển từ 25-30°C.
Có khả năng chịu được ở vùng nước có hàm lượng oxy thấp tới 1mg/l. Là loại cá ăn tạp, có thể ăn được các loại mùn bã hữu cơ, bèo, động thực vật phù du, giun đất, ấu trùng của các loại côn trùng động vật sống dưới nước và chúng có khả năng tiêu hóa cả phân hữu cơ. Đặc biệt là sử dụng rất có hiệu quả thức ăn tinh như cám, gạo, bột ngô, khô dầu lạc, đỗ tương, bột cá tạp… Tốc độ lớn tùy thuộc vào nhiệt độ môi trường, thức ăn, mật độ thả và kỹ thuật chăm sóc. Khi nuôi thâm canh, cá lớn nhanh hơn bán thâm canh hay nuôi ghép. Tốc độ lớn nhanh vào các tháng 3, 4, 5.
Các hình thức nuôi - kỹ thuật nuôi.
Thời vụ nuôi ở các tính phía Bắc cần tiến hành sớm từ tháng 4 và thu hoạch vào tháng 11, 12.
Nuôi bán thâm canh trong ao
Mật độ thả: 2 - 3 con/m 2, cỡ cá giống khi thả: 15 - 20gr/con. Thức ăn: Cần kết hợp bón phân gây màu để tạo thức ăn tự nhiên, đồng thời bổ sung thêm nguồn thức ăn tinh có hàm lượng protein từ 18 - 20%. Thành phần nguyên liệu phối chế bao gồm: cám gạo 40%., bột ngô 17%, khô lạc 15%, bột đỗ tương 12%, bột cá nhạt 10%, bột sắn 5%, premix 1%.
Hỗn hợp trên nấu chín, ngày cho ăn 2 - 3 lần, liều lượng 2 - 3% trọng lượng cá trong ao. Để kiểm tra lượng thức ăn, ta nên cho ăn vào sàn hoặc khay cố định để tiện theo dõi.
* Bón phân: Có thể dùng phân chuồng ủ kỹ (2 - 3% CaO) phân đạm lân và phân xanh để bón cho ao.
- Phân chuồng bón 25kg/100m 2/tuần
- Phân vô cơ: Tỷ lệ đạm lân = 4/1 bón với liều lượng 0,2kg/100m 2, tuần bón hai lần. Đối với phân vô cơ, phải hòa tan trong nước rồi té đều trên mặt ao vào lúc trời mát.
Nếu không có phân chuồng có thể dùng phân xanh (cây muồng, điền thanh, từ bi, chó đẻ, lá lạc…) liều lượng bón: 20 – 25kg/100m 2/tuần. Cách bón: Bón phân xanh thành bó nhỏ: 5 - 10kg, ngâm chìm trong nước sau 3 - 5 ngày đảo lại 1 lần. Khi thấy lá phân hủy hết, vớt cành lên bờ phải đốt cho sạch.
Sau thời gian nuôi 4 - 6 tháng, tỷ lệ sống có thể đạt 85 - 90%, năng suất đạt 6 - 8 tấn/ha.
Nuôi thâm canh trong ao
Yêu cầu nguồn nước cung cấp chủ động, đáy trơ hoặc ít bùn, diện tích từ 1500 - 3000m2, độ sâu 1,5 - 2,5m; pH từ 6,5 - 7,5 ao được cải tạo kỹ theo quy trình.
Mật độ nuôi: Từ 6 - 8 con/m 2tùy theo khả năng về tài chính, kỹ thuật chăm sóc hộ gia đình.
Cỡ giống: Do miền Bắc có mùa lạnh, thời gian nuôi ngắn, để có cỡ cá khi thu hoạch đạt 400 – 500g/con trở lên phải thả giống từ đầu tháng 4, cỡ cá giống yêu cầu 30 - 50 g/con.
Thức ăn: Dùng thức ăn của các hãng đã được kiểm chứng hiện có trên thị trường như: Proconco, Higro, AF, Cargill... hoặc thức ăn tự phối chế có hàm lượng đạm từ 18 - 35%. Thức ăn phải nổi lên mặt nước ít nhất 2 giờ.
* Cho ăn, chăm sóc quản lý:
- Lượng ăn thay đổi như sau:
Cá cỡ 10 - 50gr: Cho ăn 5% trọng lượng cá trong ao/ngày.
Cỡ 50 - 300gr: Cho ăn 3% trọng lượng cá trong ao/ngày.
Cỡ 300gr, cho ăn 2% trọng lượng cá trong ao/ngày.
Hằng tháng cân kiểm tra trọng lượng cá để điều chỉnh thức ăn.
* Chế độ thay nước:
Dùng máy sục khí từ tháng nuôi thứ hai, mỗi ngày 6 - 8 tiếng (từ 23h tối đến 5 - 6h sáng hôm sau).
Thay nước nước khi nước ao quá bẩn… mỗi lần thay từ 1/3 lượng nước trong ao.
* Chú ý:
Tháng thứ nhất không thay nước.
Tháng thứ hai thay 1 lần.
Tháng thứ ba thay hai lần.
Tháng thứ 4 đến tháng thứ 6 mỗi tuần thay một lần.
* Thu hoạch:Sau 5 - 6 tháng nuôi, cá đạt cỡ 400-600gr/con là có thể thu hoạch những cá lớn trước. Cá nhỏ trong ao nên giữ lại nuôi tiếp khoảng 1 tháng để đạt cỡ cá theo ý muốn (không thả bù).
Cá làm nguyên liệu chế biến xuất khẩu nên đưa cá lên nuôi ở bể nước chảy 2 đến 4 ngày giúp loại bỏ mùi bùn, nâng cao chất lượng cá khi chế biến.








