Kỷ niệm 700 năm ngày Viên tịch của sư tổ Thiền phái Trúc Lâm: Trần Nhân Tông vua anh hùng, triết gia, thi sĩ
Nói đến Trần Nhân Tông trước hết là nói đến ông vua anh hùng cứu nước. Ông làm vua mười bốn năm (1279 - 1293). Trong thời ấy nước Đại Việt bị Nguyên - Mông xâm lược hai lần. Trước hiểm họa ngoại xâm, Trần Nhân Tông trở thành ngọn cờ “cố kết lòng dân”, lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ hai và thứ ba, nhà vua tỏ rõ vừa là nhà chiến lược tài giỏi, vừa là vị tướng cầm quân dũng cảm ngoài chiến trường. Chính vào thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến năm 1285, khi quân ta còn đang ở thế không cân sức với đối phương, Trần Nhân Tông đã viết lên đuôi chiến thuyền hai câu thơ đầy khí phách và niềm tin vào sức mạnh tiềm tàng của quân ta:
Cối kê cựu sự quân tu ký,
Hoan Diễn do tồn thập vạn binh.
( Cối kê chuyện cũ ngươi nên nhớ,
Hoan Diễn đang còn chục vạn quân).
Hai câu thơ này cùng với hai câu Nhân Tông viết bên lăng Trần Thái Tông tại Long Hưng, Thái Bình lúc làm lễ dâng tù binh mừng chiến thăng lần thứ ba:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu
( Xã tắc hai lần đau ngựa đá
Non sông nghìn thuở vững âu vàng).
Đã vào lịch sử như một kí ức bất diệt về chiến công bình Nguyên năm 1285 và 1288, trong đó Nhân Tông là vị chủ soái.
Sau mười bốn năm làm vua, theo truyền thống của nhà Trần, Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con là Anh Tông rồi làm Thái Thượng hoàng và đi tu, trở thành Tổ thứ nhất phái Thiền Trúc lâm Yên Tử, một phái Thiền để lại dấu ấn đặc sắc trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.
Xét trên bình diện triết học, Trần Nhân Tông có một vị trí quan trọng. Ông là một triết gia lớn của Phật học Việt Nam . Trần Nhân Tông có những trước tác về Thiền học như Thiền lâm thiết chủy ngữ lục, Thạch thất mỵ ngữ, Tăng già toái sự…Những tác phẩm này đều thất truyền, chỉ còn ít đoạn trích được bảo lưu trong sách Tam tổ thực lụcvà Thánh đăng lục.
Nét đặc trưng nổi bật của tư tưởng triết học Trần Nhân Tông là tinh thần thực tiễn, tinh thần chiến đấu, táo bạo. Sách Tam tổ thực lụcchép: “Một học trò Điều ngự” Nhân Tông: “Như thế nào là Phật?”. Nhân Tông đáp: “Như cám ở dưới cối”. Hoặc một lần học trò hỏi Nhân Tông: “Lúc giết người không để mắt thì như thế nào?”. Đáp: “Khắp toàn thân là can đảm”.
Với phái Thiền Trúc lâm Yên Tử mà Trần Nhân Tông đứng đầu, triết học Phật giáo Việt Nam thời Trần đã phát triển rực rỡ và thể hiện được đầy đủ trí tuệ, bản lĩnh Việt Nam.
Anh hùng cứu nước, triết nhân và thi sĩ, ba phẩm chất ấy kết hợp hài hòa với nhau trong con người Trần Nhân Tông. Về phương diện thơ, ông là một thi sĩ có tâm hồn thanh cao, phóng khoáng, mang ý vị siêu thoát, cũng có một cái nhìn tinh tế, tao nhão, nhất là đối với cảnh vật thiên nhiên:
Thôn hậu, thôn tiền, đạm tự yên,
Bán vô bán hữu tịnh dương biên.
Mục đồng địch lý ngưu quy tận,
Bạch lộ song song phi hạ điền.
(Trước xóm, sau thôn, tựa khói lồng,
Bóng chiều man mác có dường không.
Theo lời kèn mục trâu về hết,
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng).
Ngô Tất Tố dịch
Thơ Trần Nhân Tông, ngoài vẻ đẹp của một âm điệu hồn hậu, còn bao hàm một ý vị Thiền, gợi mở một thế giới tinh thần thanh khiết:
Tịch tịch thiên sơn, hồng diệp lạc,
Thấp vân hòa lộ tống chung thanh.
(Vắng lặng non cao, hồng lá rụng,
Mây sương hòa dẫn tiếng chuông ngân).
Và:
Bán song đăng ảnh mãn sàng thư,
Lộc trích thu đình dạ khí hư.
Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ,
Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ.
(Nguyệt)
(Bên xong đèn rạng sáng đầy giường,
Khí lạnh đêm thu đượm gió sương.
Thức dậy tiếng chày đã lặng ngắt
Trên chùm hoa mộc nguyệt lồng gương)
(Bản dịch trong Hoàng Việt thi tuyển)
Ngoài tác phẩm thơ Đại Hương hải ấn thi tập,Trần Nhân Tông còn có hai tác phẩm Nôm là Cư Trần lạc đạo phúvà Đắc phú lâm tuyền thành đạo ca.
Trần Nhân Tông qua đời năm 1308 tại am Ngọa Vân, núi Yên Tử (Quảng Ninh).
Trong lịch sử thi ca Việt Nam , cây sáo thơ Trần Nhân Tông để lại một tiếng ngân trong đến thẳm sâu.








