Kinh nghiệm cải thiện chất lượng không khí đô thị ở các nước châu Á
Đặc điểm nổi bật về kinh tế - xã hội của châu Á là đang trong quá trình đô thị hóa nhanh, dân số đô thị, phương tiện giao thông vận tải, tiêu thụ năng lượng đều tăng nhanh. Do đó, nguồn thải gây ô nhiễm môi trường không khí đô thị cũng tăng nhanh. Ở Việt Nam , tốc độ đô thị hóa trong 20 năm qua tương đối nhanh, nên khả năng hứng chịu tác động trực tiếp ô nhiễm môi trường không khí đô thị là không nhỏ. Ô nhiễm môi trường không khí bị tác động trực tiếp từ các hoạt động giao thông vận tải; sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp; hoạt động xây dựng, chủ yếu là gây ô nhiễm bụi và xảy ra ở các đô thị mới, đô thị đang cải tạo, mở rộng; sinh hoạt, đun nấu của các hộ gia đình và các cơ sở dịch vụ. Ô nhiễm không khí từ các hoạt động giao thông vận tải cho thấy, số lượng xe ô nhiễm môi trường không khí càng lớn. Tổng số xe ô tô ở châu Á năm 2005 mới khoảng 300 triệu xe, dự báo đến năm 2035 tăng lên tới 1,2 tỷ xe, tức là sau 30 năm tăng lên 4 lần. Số lượng xe ô tô và xe máy của nước ta từ 1996 đến 2007 đã tăng lên hơn 18 triệu, tăng 4,5 lần sau 10 năm. Năm 1997, ở nước ta có khoảng 250 nghìn xe ô tô, đến năm 2007 đã tăng lên hơn 700 nghìn xe, tăng 2,8 lần sau 10 năm. Ô nhiễm môi trường không khí đô thị do giao thông vận tải gây ra chủ yếu phụ thuộc vào mật độ xe và tỷ lệ xe ô tô chạy bằng dầu diesel cao hay thấp. Theo quy luật tự nhiên, khi nguồn thải ô nhiễm tăng thì ô nhiễm môi trường cũng tăng theo.
Ô nhiễm môi trường không khí đô thị ở nước ta, đặc biệt là ô nhiễm bụi, còn vượt trị số TCCP nhiều lần, biến thiên trong 10 năm gần đây giữ ở mức xấp xỉ như nhau, không tăng nhanh theo nguồn thải, đó cũng là thành công của công tác bảo vệ môi trường của nước ta, nhưng so với một số nước thì công tác bảo vệ môi trường của nước ta còn rất kém, chưa tạo ra xu thế giảm dần ô nhiễm không khí đô thị như ở các nước châu Á khác. Vì vậy, chúng ta cần phải học tập kinh nghiệm quản lý môi trường và các biện pháp cải thiện chất lượng môi trường không khí đô thị của các nước châu Á. Dưới đây, chúng tôi giới thiệu một số kinh nghiệm của các nước châu Á về các biện pháp cải thiện môi trường không khí đô thị.
Thắt chặt dần các tiêu chuẩn môi trường có liên quan và tiến hành các biện pháp kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ để cưỡng bức thi hành.
Về tiêu chuẩn chất lượng không khí xung quanh: các tiêu chuẩn đã được áp dụng ở nhiều nước châu Á từ những năm của thập niên 90 thế kỷ trước, còn ở nước ta mãi đến năm 2005 mới ban hành tiêu chuẩn này.
Về tiêu chuẩn khí thải của xe ô tô: nhiều nước châu Á đã áp dụng tiêu chuẩn Euro 2 trước năm 2000, ở nước ta quy định áp dụng từ 2007 cũng chủ yếu đối với xe mới, còn đối với các xe đang hoạt động thì chưa bắt buộc.
Về tiêu chuẩn hàm lượng sulfur trong dầu diesel: Ở nhiều nước châu Á đã áp dụng tiêu chuẩn <500 ppm từ những năm trước 2000. Năm 2007, Việt Nam mới có quy định áp dụng, trong tương lai gần nhiều nước sẽ quy định mức tiêu chuẩn giảm xuống <50ppm. Các nước ở châu Á cũng như nhiều nước khác trên thế giới đang phát triển biodiesel để xe chạy không thải ra SO 2.
Nâng cao chất lượng xăng: Để nguồn thải các chất độc hại từ xăng, các nước châu Á cũng như ở nước ta đã sử dụng xăng không pha chì, nhưng để đạt được tiêu chuẩn Euro 4 thì châu Á ít nhất phải mất 4-6 năm nữa.
Phát triển công nghệ sản xuất xe
Phát triển các loại xe ô tô, xe máy chạy điện, phát triển xe chạy bằng khí hoá lỏng, thúc đẩy các công ty sản xuất ô tô nghiên cứu cải tiến động cơ ô tô tiết kiệm nhiên liệu, truyền bá kỹ thuật lái xe ô tô, xe máy tiết kiệm nhiên liệu.
Thực thi Chính sách nhằm giảm nguồn ô nhiễm giao thông
Ban hành và thực thi chính sách thu phí khí thải giao thông và áp dụng chính sách khuyến khích giảm khí thải giao thông; Không cho các xe quá cũ vận hành; Cấm hoặc giảm lưu lượng xe ở khu vực trung tâm thành phố: thí dụ ở Singapore trong một số ngày giờ nhất định các xe vào trung tâm bị cấm hoặc phải mua vé.
Xây dựng hệ thống các trạm kiểm tra và bảo dưỡng sửa chữa xe trong đô thị
Tất cả các xe ô tô, xe máy định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm phải qua kiểm tra khí thải một lần, xe đạt tiêu chuẩn thì cấp giấy lưu hành hoặc tem lưu hành. Các xe không đạt tiêu chuẩn phải đưa vào trạm bảo dưỡng và sửa chữa xe và được cấp giấy hoặc tem lưu hành tại các trạm bảo dưỡng này. Theo kế hoạch Cục đăng kiểm Việt Nam, đến 2010 sẽ xây dựng 83 Trung tâm kiểm định xe ở 67 thành phố. Ở châu Á đã có nhiều thành phố thực hiện kiểm soát khí thải của xe có hiệu quả như: Đài Bắc, Baangkok, Manila, Hồng Kông, Delhi, Jaipur, Agra (Ấn Độ), .v….
Giảm thiểu nguồn thải tĩnh (công nghiệp) trong khu vực đô thị
Di rời các cơ sở sản xuất công nghiệp trong nội thành ra các khu công nghiệp ở ngoại thành; áp dụng công nghệ xử lý khí thải hiện đại và công nghệ sản xuất sạch hơn.
Giảm thiểu nguồn thải từ hoạt động xây dựng
Giảm thiểu phát thải bụi từ hoạt động vận chuyển nguyên vật liệu trong đô thị, xe cộ được phủ bạt kín và không để đất cát rơi vãi.
Giảm thiểu phát thải bụi từ công trường xây dựng và sửa chữa nhà cửa, hạ tầng kỹ thuật đô thị. Sửa chữa tổng thể, hoàn thiện từng đoạn đường phố, hoàn toàn không có tình trạng "đào đào-lấp lấp" nhiều lần như ở nước ta. Công trình thi công đều được che phủ bao bọc xung quanh. Đất cát đào đường được đổ vào thùng chứa, không được đổ bừa bãi trên đường hay vỉa hè.
Giảm thiểu nguồn thải từ mặt đường phố
Vệ sinh môi trường mặt đường phố và vỉa hè, sử dụng xe chuyên dụng hút bụi mặt đường. Tưới nước, rửa mặt đường vào các ngày khô hanh; Xanh hóa đường phố.
Nâng cấp hệ thống giao thông đô thị
Năm 1995, Bangkok đã đánh giá thiệt hại kinh tế do ô nhiễm giao thông gây ra bệnh tật (tiền khám chữa bệnh, tiền thuốc, giảm tiền lương vì nghỉ việc…), do tắc nghẽ giao thông (mất thời gian đi lại, tăng tiêu hao nhiên liệu v.v…) mỗi ngày khoảng1 triệu đô la Mỹ. Do đó, Chính phủ Thái Lan đã vay 2 tỷ đô la vốn ODA Nhật Bản để xây dựng hệ thống giao thông trên cao. Do đó, đã khắc phục được thiệt hại về người và của tại Bangkok .
Thiết lập hệ thống Monitoring không khí đô thị tự động và truyến thông
Ở rất nhiều thành phố lớn ở châu Á đã thiết lập hệ thống các trạm Monitoring môi trường không khí tự động: Các trạm Monitoring môi trường không khí giao thông (đặt ở cạnh đường) và các trạm Monitoring môi trường không khí xung quanh (đặt ở trung tâm các khu dân cư đặc trưng). Từ đó phát hiện kịp thời tình trạng ô nhiễm và đề ra các biện pháp xử lý./.








