Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 25/12/2007 00:25 (GMT+7)

Không quân Pháp ở Điện Biên Phủ chuẩn bị cho chiến dịch Castor

Trước khi rời Đông Dương, tướng Salan, tổng chỉ huy, đã đưa ra giả thuyết chiếm lại Điện Biên Phủ, theo ông có thể bảo vệ vùng Thượng du từ các cứ điểm như Nà Sản, Lai Châu và ĐBP. Ngày 25 tháng 5 - 1953, ba ngày trước khi nhường chỗ cho Navarre , ông nhấn mạnh phải chiếm lại ĐBP làm căn cứ xuất phát hỗ trợ cho quân Pháp đang bị bao vây ở Nà Sản.

Chỉ thị đầu tiên của Navarre nói đến việc chiếm nhanh Điện Biên Phủ là từ ngày 25 tháng 7 - 1953. Chuẩn bị cho các trận chiến mùa thu, chỉ thị nhắc nhở tướng Cogny, chỉ huy Lục quân Bắc Việt Nam, nghiên cứu chiếm đóng bất ngờ Điện Biên Phủ để lập một căn cứ không quân và bộ binh. Theo Navarre thì: nó có thể buộc đối phương điều chỉnh vào phút cuối kế hoạch chiến dịch của chúng, giúp cho Pháp tranh thủ thời gian, thậm chí dành lại chủ động trên toàn chiến dịch trong trường hợp đối phương quyết định đưa lực lượng tới ĐBP để chiếm lại.

Ba tuần sau, tướng Cogny gửi kết luận nghiên cứu lên. Ông chủ trương phải chiếm nhanh ĐBP, gạt bỏ những ý kiến cho rằng việc lập những căn cứ chỉ phụ thuộc vào vận chuyển bằng đường không, đưa đến không tránh khỏi làm tê liệt các phương tiện vận chuyển quan trọng. Nà Sản đã được di tản và Lai Châu chỉ còn duy trì về kinh tế mùa hè. Ý đồ của Việt Minh hình như hướng về Thượng du, nhằm Lai Châu và Luông Phabang là hai mục tiêu quan trọng. Navarre muốn đi trước cuộc tấn công đó bằng tăng cường lực lượng ở xứ Thái và bảo vệ Luông Phabang. Vấn đề yểm trợ cho Lào được thực hiện theo hiệp định ký ngày 22 tháng 10 - 1953 ràng buộc trách nhiệm của Pháp (1). Ngoài ra Việt Minh còn duy trì một đội quân từ 20 đến 25.000 người ở đấy. Đấy là tinh thần của chiến dịch ĐBP được xác định trong chỉ thị ngày 2 tháng 11 - 1953. Việc thực hiện được giao cho tướng Cogny để khởi động trước ngày 1 tháng 12 và nếu cần thì từ 15 đến 20 tháng 11 - 1953.

Ở Hà Nội, trong bộ chỉ huy của Cogny, một số sĩ quan tham mưu sau khi nghiên cứu phải chau mày không tán thành. Đại Tá Bastiani không tin rằng chiếm ĐBP sẽ khiến cho Lai Châu khỏi thất thủ, nó cũng không khiến cho Việt Minh bị mất nguồn tiếp tế gạo và thuốc phiện trong vùng. Ông cho đó là một ý nghĩ không tưởng, một khái niệm ở châu Âu không có giá trị ở đất nước này, vì Việt Minh có thể đi qua bất cứ nơi đâu. Trong tờ phiếu đánh giá, ông ghi rằng:

Tôi tin rằng, dù muốn hay không, ĐBP sẽ trở thành một cái hố vùi lấp các tiểu đoàn, không có triển vọng mở rộng, khi chỉ cần có một trung đoàn Việt Minh là khống chế được. Trong khi đó thì mối đe doạ trên Châu thổ mỗi ngày một thêm rõ rệt, người ta sẽ án binh bất động những lực lượng tương đương 3 GM (binh đoàn cơ động) cách xa Hà Nội 300 km (theo đường chim bay), nghĩa là lực lượng viện binh mà chúng ta nhận được khiến cho ta hơn hẳn Việt Minh và hiện nay đang giúp ta gây cho chúng những thiệt hại. Và điều đó nhằm đảm bảo trước việc bảo vệ Lào có hiệu quả chống mối đe doạ giả định mà không có gì dự đoán trước. Hậu quả của một quyết định như vậy có thể rất nghiêm trọng và Bộ Tham mưu Lục quân cần phải biết.

Mặc dầu những ý kiến khác nhau về công dụng của việc lập căn cứ bộ binh - không quân ở ĐBP, Navarre vẫn không từ bỏ. Chiến dịch Mouette diễn ra từ 15 tháng 10 đến 7 tháng 11 - 1953 ở phủ Nho Quan càng làm cho ý tưởng của ông thêm củng cố. Một lần nữa nó chứng tỏ giá trị của những đơn vị nhảy dù và khó khăn trong việc triển khai bộ binh, dù là cơ động, giữa vùng núi non rậm rạp. Điều kiện sử dụng quân Pháp đã thuyết phục Navarre về tính ưu việt của cứ điểm phòng ngự trong chiến đấu đường rừng, mà ở đó lực lượng Việt Minh đông hơn, trong khi không quân chỉ can thiệp bằng trinh sát hay hỗ trợ các đơn vị dưới đất. Tin vào bài học đó và được tin Đại đoàn 316 đang di chuyển về hướng Thượng du, ông không ngần ngừ chỉ thị cho Cogny ngày 9 tháng 11:

Chỉ thị này nhằm mục đích hướng ông vào các nhiệm vụ mà ông sẽ thực hiện, nhằm xác định các biện pháp cần thiết để thực thi và sẵn sang thực hiện vào thời điểm mong muốn.

Đối phương hình như đang có ý định tấn công vào Lai Châu từ 15 tháng 12 - 1953 với khoảng 12 tiểu đoàn, mà phần lớn thuộc Đại đoàn 316.

Về phía mình, tôi muốn thực hiện cuộc tấn công từ 15 - 20 tháng 11 nhằm chiếm đóng ĐBP để lập một căn cứ không quân - bộ binh mới.

Lực lượng dự kiến ban đầu là 6 tiểu đoàn dù, về sau giảm xuống còn 5. Chiến dịch mang mật danh Castor (hải ly), phải được mở màn trước ngày 20 tháng 11, nhằm vượt lên Đại đoàn 316 trước khi họ đến vùng ĐBP và Lai Châu. Mệnh lệnh chuẩn bị được tướng Cogny bí mật chuyển cho tướng Gilles, chỉ huy các đơn vị không vận Đông Dương, chịu trách nhiệm nhảy dù xuống ĐBP.

Ở Hà Nội, tại Bộ chỉ huy của Cogny các sĩ quan chỉ có rất ít thời gian để chuẩn bị cho trận không vận lớn nhất chiến tranh Đông Dương. Với không lực, tướng Navarre giao nhiệm vụ chủ yếu là hoãn một cuộc không kích đường giao thông, để tập trung vào việc đưa hai tiểu đoàn dù lên ĐBP, rồi lo việc tiếp vận, di tản thương binh và hỗ trợ cho các đơn vị được ném xuống.

Tướng không quân Jean Dechaux, 54 tuổi, chỉ huy từ 1952 Đơn vị không quân chiến thuật phía Bắc (GATAC - Bắc) (2) miền Viễn Đông, là một kỹ thuật viên có tiếng đã đến Đông Dương lần thứ 3. Tướng Cogny giao cho ông chỉ huy chiến dịch không vận mang tên Castor, còn tướng Gilles chỉ huy lực lượng bộ binh. Để giữ bí mật, Đại tá Nicot, chỉ huy không quân vận tải Đông Dương, chỉ được chính thức báo tin ngày 10 tháng 11 và tướng Dechaux được báo vào hôm sau.

Ngày 11 tháng 11 - 1953, Dechaux đến dự cuộc họp chuẩn bị, có Đại tá Nicot tham dự, mà hồi 9 giờ ông đã ra lệnh cho đội máy bay vận tải sẵn sàng. Đội vận tải chỉ có nhiệm vụ tiếp vận và thả dù quân đội như vậy là đang ở trong tình thế rất thuận lợi. Tuy nhiên, ngay sau khi nghe trình bày nhiệm vụ của không quân vận tải, Đại tá Nicot vẫn phát biểu những điều lưu ý về khả năng thực hiện. Cụ thể là sau khi chiếm ĐBP do khoảng cách xa Hà Nội (300 km), do tình hình địa lý, tình hình khí tượng và thiết bị hầu như không có gì ở miền Thượng du về các biện pháp hỗ trợ vô tuyến điện.

- Việc tiếp tế cho đơn vị đồn trú hoàn toàn phải thực hiện bằng đường không, các phương tiện của phi đội vận tải hầu như hoàn toàn bị hút vào ĐBP nên phải bỏ qua các khu vực khác,Nicot nhấn mạnh.

Khi chiến dịch khởi động, Tiểu nhóm Phương tiện vận tải đường không (S./GMMTA) có thể huy động 69 máy bay Đakôta chia thành 3 đội vận tải, 5 máy bay C - 119 yêu cầu Mỹ hỗ trợ để thả dù các phương tiện nặng. Trong số 92 phi công, thì 72 đã sẵn sàng.

Đối với không lực, có nhiều mối lo khác được tướng Dechaux nêu rõ. Do khoảng cách quá xa, chỉ có máy bay B - 26 mới có thể yểm trợ quân nhảy dù và hỗ trợ hoả lực cho lực lượng dưới đất, bán kính hoạt động chiến thuật của máy bay khu Bearcat chỉ có 250 km.

Ngày 13 tháng 11, sau khi thống nhất với Dechaux và Đại tá Nicot, tướng Lauzin xác nhận bằng văn bản gửi tướng Navarre nói về các khó khăn để thực hiện chỉ thị 9 tháng 11 chủ yếu xác định ngày Jvà khả năng của phi đội vận tải. Ông cho rằng khoảng thời gian dự tính (15 - 20 tháng 11) thì ngày 20 tháng 11 là thời điểm gần nhất có khả năng thực hiện:

- Trong trường hợp điều kiện khí tượng không thuận lợi vào ngày J, Giả thiết rằng việc tập trung và phổ biến mệnh lệnh đã tiến hành, chúng ta có thể giả định rằng các biện pháp báo động đã được quân phiến loạn tăng cường (đặc biệt là sung phòng không). Vấn đề đặt ra là muốn biết ông có chịu trách nhiệm duy trì chiến dịch không vận vào ngày (J + 1) không. Quả thật, việc tập trung máy bay bay ở tầm thấp và tốc độ hạn chế có nguy cơ bị thiệt hại sẽ làm giảm số lượng phi đội, hiện có 67 máy bay (+2 VIP) chứ không phải là 75 chiếc.

Mặt khác, Lauzin xác nhận rằng việc tiếp tế cho cứ điểm tương lai đòi hỏi huy động hàng ngày 40 chiếc Đakota, như vậy có thể ảnh hưởng đến việc tiếp vận hàng ngày cho các khu vực khác và bảo dưỡng phi đội cho các chiến dịch về sau. Ông đề nghị sử dụng phi đội dân sự, đã được đề nghị nhiều lần với nhiều tốn kém, để tiếp tế cho ĐBP.

Những ngày sau đó, tướng Lauzin không tham gia các cuộc họp chuẩn bị cho chiến dịch Castor. Ông bay về Pari để xin với tướng Fay, tham mưu trưởng không lực, thêm các phương tiện bổ sung. Nhưng tướng Fay đã ở Đông Dương bên cạnh tướng Leclerc năm 1945, và vẫn giữ một kỷ niệm khủng khiếp về nơi này. Mặc dù tình bạn giữa hai người, Lauzin vẫn ngạc nhiên khi nghe tướng Fay nói thẳng ra rằng từ nay ông không cần phải viết thư cho tham mưu trưởng với tư cách cá nhân nữa, và sẽ không có “ bất cứ người nào, bất cứ chiếc máy bay nào”.

Ngày 14 tháng 11 - 1953, đại tá Nicot ra lệnh cho các chỉ huy phi đội và chỉ huy các phân đội sẵn sàng tập trung tất cả máy bay có thể sử dụng về hai sân bay ở Hà Nội (Bạch Mai và Gia Lâm) vào ngày đã định lúc 14 giờ khi có mật hiệu báo tới.

Hai máy bay Bearcat va chạm trên sân bay Điện Biên Phủ ngày 28 - 2 - 1954 khiến một phi công tử nạn

Hai máy bay Bearcat va chạm trên sân bay Điện Biên Phủ ngày 28 - 2 - 1954 khiến một phi công tử nạn

Các cuộc họp nối tiếp nhau. Ngày 15 tháng 11, thiếu tá Faucaut chỉ huy phi đội đóng ở căn cứ Bạch Mai được triệu tập cùng 3 người (Phi công, hoa tiêu và điện đài) đến Bộ tham mưu của tướngCogny. Bốn người rất ngạc nhiên khi được đưa đến với một lô tướng và vài viên đại tá. Tướng chỉ huy không quân Bodet, phụ tá của Navarre , chủ trì cuộc họp. Ông thông báo cho các chỉ huy quân sự ởBắc kỳ việc huy động ngay lập tức một đội quân viễn chinh 10.000 người tới ĐBP. Sau báo cáo của ông, đến lượt những người khác phát biểu, hầu hết đều không đồng tình. Nhưng gay gắt nhất có lẽ làtướng Dechaux:

- Nà Sản cách Hà Nội 45 phút bay. ĐBP cách 1 giờ 30 phút, như vậy là một tiềm lực gấp đôi, ông nhấn mạnh.

Do những hoạt động quân sự khác đang diễn ra ở Trung Kỳ và Lào, đơn vị S./GMMTA có nguy cơ không thể tăng khả năng vận chuyển và dồn thêm nhiều máy bay vào phi vụ này.

- Việc bảo trì được đảm bảo bằng những đội thợ máy làm việc theo công thức 3 x 8 để tăng khả năng hoạt động của máy bay, Dechaux nói thêm. Nhân viên bay, số giờ bay trung bình hàng tháng xê dịch từ 120 và 150 giờ, đã bị kiệt sức và cơ quan y tế đã nhiều lần lưu ý Bộ chỉ huy về tình trạng sức khoẻ của nhân viên.

Hơn nữa, về việc yểm trợ hoả lực cho bộ binh, ông nhắc lại rằng khả năng hoạt động của máy bay Bearcat không cho phép bay đi về giữa Hà Nội Và ĐBP. Sau khi nhận xét đó, tướng Bodet cũng đã từng chỉ huy không lực ở Viễn Đông từ tháng 4 - 1947 đến tháng 3 - 1950, hứa là sẽ có tăng viện về phương tiện và người từ Pháp đến trong thời ngắn nhất, và một đường băng sẽ được nhanh chóng làm ở ĐBP cho phép máy bay khu trục hạ cánh. Nó cũng được máy bay vận tải sử dụng hàng ngày để tiếp vận. Tướng Dechaux lo lắng không biết sân bay đó có bị hoả lực đối phương đe doạ không.

- Với những phương tiện mà tôi có, đường băng không thể bị pháo của đối phương làm hư hại, đại tá Piroth, chỉ huy pháo binh, bảo đảm.

Đại tá Nicot lưu ý rằng nếu đường băng được làm, nó sẽ không thể chịu đựng được lưu lượng máy bay trong suốt mùa mưa.

Sau mọi lời tranh luận, tướng Bodet kết luận:

- Chiến dịch này sẽ được thực hiện vì chính phủ rất kỳ vọng vào nó.

Trung tá Brunet, chỉ huy căn cứ không quân Cát Bi, rời hội nghị với thái độ phẫn nộ. Viên chỉ huy này, không phải là người dễ tính, đã đến Đông Dương lần thứ ba. Ông đã thực hiện hàng đống phi vụ. Ông biết rất rõ đất này và tình hình ở đây, cũng như các vị chỉ huy mà ông tỏ ra không hề tin tưởng vô điều kiện. Đỏ mặt vì tức giận, ông nói với đại uý Saint - Macary:

- Saint - Mac, tất cả những chuyện này sẽ kết thúc bằng tắm máu!

Ngày 17 tháng 11, từ 16 giờ 30 đến 17 giờ 30 tại Hà Nội đã có cuộc họp cuối cùng do Navarre chủ trì, có mặt các tướng Bodet, Cogny, Masson, Dechaux, Gilles, cùng các đại tá Berteil và Bastiani. Trước đấy Navarre đã trao đổi với Cogny.

- Các ông có ý kiến gì phản đối việc thực thi chiến dịch không vận lên ĐBP không? Navarre hỏi tướngMasson, Dechaux và Giles.

Mọi người đều nhất trí bày tỏ lời khuyên không nên thi hành chiến dịch, bằng cách đưa ra những trở ngại chiến thuật hay kỹ thuật với luận điệu ít nhiều mang tính thuyết phục. Do sự văbngs mặt của cấp trên trực tiếp là tướng Lauzin đang trở về Pari, tướng Dechaux nhắc lại rằng việc duy trì căn cứ không vận mới sẽ làm hao tổn nặng nề tiềm năng của không quân vận tải và khí tượng giữa vùng Châu thổ và thung lũng ĐBP thường khác nhau, các khó khăn nhất định sẽ xuất hiện gây trở ngại lớn cho việc vận chuyển.

Tuy nhiên Navarre vẫn bỏ qua mối lo ngại của vị chỉ huy GATAC-Bắc, được vị phụ tá của ông ta là tướng Bodet hỗ trợ, ông này cho rằng về mặt kỹ thuật chiến dịch là có khả năng thực hiện. Bodet giữ quyết định thực hiện chiến dịch Castor bằng cách nhắc lại các lý do chiến lược (bảo vệ Lào) và kinh tế (nắm vùng lúa gạo, cụ thể là trên cánh đồng ĐBP).

Sau cuộc họp, tướng Gilles thông báo cho các phụ tá thân cận quyết định của viên tham mưu trưởng của mình là đại tá Ducourneau.

- Đến lượt chúng ta phải đưa tất cả những cái đó lên dàn nhạc!Ông thở dài than thở.

Rồi quay sang các đại uý Foucher và Lecomte phụ trách tác chiến và hậu cần, ông nói thêm:

- Mà không có nốt nhạc nào sai lạc!

Ngày khởi động cuộc hành quân không vận được định vào 20 tháng 11 - 1953. Trong một mệnh lệnh ngày 18 tháng 11 gửi tướng Dechaux, tướng Navarre cho biết ông giao toàn quyền cho viên phụ tá của mình: các quyết định khởi động, lùi lại, trì hoãn, dừng lại và tiếp tục chiến dịch không vận đến ĐBP sẽ do tướng chỉ huy không quân Bodet, phụ tá của tướng Tổng chỉ huy, quyết định.

Việc chuẩn bị tiến hành khẩn trương trong Không lực. Việc thực hiện chiến dịch không vận đối với phi đội vận tải được giao cho Đội vận tải 2/26 Franche – Comté. Thường trực đóng ở Bắc kỳ là khu vực hoạt động của Đội từ tháng 9 - 1949, Đội được chuyên sử dụng vào các chiến dịch không vận, là nơi thực tập cho các phi công trẻ của các Đội khác để hoàn thiện tay nghề. Hàng ngày, phi hành đoàn của Franche - Comtéphải tiếp tế bằng thả dù cho các cứ điểm đóng rải rác khắp miền Thượng du Bắc Kỳ. Theo năm tháng, nhiệm vụ của nó càng trở nên nguy hiểm vì súng phòng không của Việt Minh ngày một tăng cường. Mỗi lần thả dù xong, các phi đội phải thay đổi đường bay để tránh các ổ phục kích. Sàn máy bay được tăng cường những tấm thép chống đạn.

Việc lên kế hoạch có vẻ chán ngắt. Chịu trách nhiệm về hậu cần, Đại uý Lecomte phải chuẩn bị kế hoạch thả dù cho đến ngày J + 10. Từ 6 tháng 11, quan sát khí tượng vùng ĐBP được thực hiện có hệ thống bằng máy bay, nhưng vẫn không xác định được thời tiết cụ thể vào ngày J. Trinh sát bằng chụp ảnh được thực hiện với nhiều khó khăn, vì ở đấy thường có mây hay mù. Trên thực tế, các phi công không nhìn thấy gì nhiều vì các con đường mòn cũ hay những “con đường thuộc địa” cũ đều biến mất dưới cây cỏ. Ngày 16 tháng 11, trung sĩ Ledoux, phi công thuộc Phi đội Không quân Liên lạc may mắn thực hiện được việc chụp ảnh toàn khu vực lòng chảo ĐBP ( mapping) bằng chiếc máy bay hai động cơ NC - 701 Martinetcó kính đằng mũi. Loại phi vụ này đòi hỏi phải điều khiển máy bay cực kì chính xác (hướng bay, độ cao, vòng lái), sự chú ý của phi công hầu như hoàn toàn dựa vào máy móc bay. Ledoux trở về buổi tối với những tấm ảnh cho phép dựng lại một tấm hình lắp ghép, một bản đồ thực sự sau này được Bộ tham mưu sử dụng trong chiến dịch. Những máy bay khác rà soát khu vực, đôi khi cung cấp cho các chuyên viên những hình ảnh cho phép tìm ra nhiều tín hiệu thú vị mà mắt thường không nhìn thấy (3) …

Ngày 19 tháng 11 việc chuẩn bị hầu như đã hoàn tất. Vị trí chiến dịch sẽ dược giao cụ thể cho máy bay khi cất cánh, cùng với việc phân phát bản đồ.

Về nhảy dù có 3 khu vực thả quân (DZ) được định trước: DZ Natachagiao cho tiểu đoàn dù Thuộc địa số 6 của thiếu tá Bigeard, nằm cách ĐBP 200 m về phía tây - bắc và cách sân bay 300 m, gồm ruộng khô và bờ bụi. DZ Simonegiao cho tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn dù số 1 của thiếu tá Bréchignac, nằm cách ĐBP 400 m về phía đông - nam, gồm đất ruộng. DZ Octavielà nơi thả vật dụng, nằm cách một ngôi làng 500 m về phía tây - nam, trên bờ phải sông Nậm Rốn.

Do số máy bay hạn chế nên đợt 1 chỉ có 2 tiểu đoàn được thả xuống, như vậy là chưa đủ nếu có xung đột nghiêm trọng. Một phiếu trinh sát ngày 10 tháng 11 - 1953 cho biết tình hình Việt Minh trong ĐBP. Từ tháng 11 - 1952, lòng chảo do trung đoàn 148 chiếm giữ, đó là đơn vị gồm người Miền núi chỉ huy sở đóng trong làng. Cùng đóng có hai đại đội của tiểu đoàn 910 (Đại đội 221 + 224 + Tiểu đoàn bộ), chịu trách nhiệm huấn luyện bộ đội địa phương, được tăng cường Đại đội pháo 112 có 4 súng cối 120 tách từ Đại đoàn 351. Đơn vị hỗn hợp này có giá trị bằng một tiểu đoàn tăng cường có pháo nặng. Hình như từ tháng 5 - 1953 các đơn vị này chưa tham chiến và sẽ hoàn thành việc cải tổ từ ngày 10 tháng 11. Ngược lại hình như việc cố thủ ĐBP được nghiên cứu chu đáo trong trường hợp bị tấn công bằng không vận. Tin trinh sát gần đây có nói về việc quay trở lại ĐBP của Bộ chỉ huy Tiểu đoàn 930 và các đại đội đang hoạt động ở phía nam Lai Châu. Cuối cùng sự có mặt các đơn vị khác trong thung lũng hoàn toàn không được biết đến như Đại đội 256 thuộc Tiểu đoàn 920 với sung cối và pháo, cũng như một Đại đội của Trung đoàn 675 thuộc Đại đoàn 351.

Tuỳ tình hình, một đợt Dakotathứ hai sẽ được thả xuống Tiểu đoàn thứ hai (BPC 1 của thiếu tá Souquet) vào buổi chiều cùng các bộ phận của trung đoàn pháo hạng nhẹ. Nhảy dù số 35 (RALP 35), súng cối và một trạm giải phẫu. Trung tá Fourcade, phụ tá của tướng Gilles phụ trách các đơn vị dù hợp thành đội không vận số 1 (GAP 1). Ngày 21 và 22 tháng 11, đội GAP 22 của trung tá Langlais sẽ nhảy xuống…..

Mục tiêu của chiến dịch không vận là chiếm lĩnh lòng chảo ĐBP trong thời gian ngắn nhất, thiết lập các phương tiện di tản thương binh ở căn cứ Lai Châu, tu bổ đường băng, bố trí nhanh chóng các phương tiện để kiểm soát khắp vùng. Trong một chỉ thị mật bổ sung của tướng Cogny, ông nhấn mạnh đến sân bay cần được kiểm soát và sửa chữa. Sân bây phải được tu bổ ngay để máy bay hạng nhẹ có thể hạ cánh, rồi hoàn thiện đường băng chính dài 1.100 m để cho máy bay nặng hạ cánh, hiện trên đó có hơn 1.000 cái hố cách nhau 1 m do Việt Minh đào.

Bí mật được giữ cho tới ngày Jbằng những biện pháp bảo mật đặc biệt: cấm trại, ít giấy tờ, mệnh lệnh miệng, tăng cường kiểm soát nhân viên dân sự Việt Nam có khả năng tiếp xúc với những người tham gia chiến dịch. Một tài liệu xếp vào loại tối mậtđược Bộ chỉ huy Lực lượng trên bộ Bắc Việt Nam phải đi ngày 17 tháng 11 để cho đối phương tưởng rằng việc chuẩn bị đang diễn ra, cụ thể là tập trung máy bay, tại các căn cứ ở Bắc Kỳ, là để thực hiện hành động phát động ngày 22 tháng 11 quanh vùng Hòa Bình….

Sáng thứ sáu 20 tháng 11 - 1953 tại sân bay Gia Lâm. Chiếc máy bay của Sở chỉ huy cất cánh lúc 5 giờ khi trời còn tối, nhiên liệu đầy có thể hoạt động trong 8 giờ liền. Ngoài phi hành đoàn còn có các tướng Bodet, Gilles và Dechaux cùng đại tá Nicot, nhân viên khí tượng và thông tin. 6 giờ 15 máy bay lượn trên ĐBP bị mây và mù che phủ. Vào mùa khô, trời không mưa nhưng khí tượng đôi khi xấu. Hai mươi phút sau chiếc Dakota quay lại ĐBP, nhân viên khí tượng lạc quan và nghĩ rằng tình hình sẽ tốt hơn trong mấy giờ tới.

Từ 7 giờ 15 nhân viên điện đài trên máy bay cố liên lạc với Hà Nội mà không được. Đến 7 giờ 55 văn bản liên lạc được trao cho nhân viên điện đài để bật đèn xanh cho đoàn máy bay đang chờ taị sân bay Hà Nội. Từ đấy cứ 30 giây điện đài lại phát tín hiệu. Trong cuộc họp giao ban tối hôm trước của Đại tá Thông tin Lục quân, ông đã yêu cầu mở thêm một tần số phụ để bảo đảm liên lạc nếu mệnh lệnh được phát đi ban đêm hay lúc tảng sáng.Nhưng yêu cầu của ông không được đáp ứng và ông đã nói sẽ không chịu trách nhiệm trong trường hợp mệnh lệnh gửi đi bị chậm trễ.

Nhân viên điện đài nhìn thấy vẻ mặt sốt ruột của các tướng trên máy bay.

- Thế nào? tướng Dechaux hỏi.

- Thưa tướng quân, còn phải chờ, viên trung sĩ trả lời.

Mãi đến sau 8 giờ, liên lạc mới được nối với GATAC - Bắc. Mệnh lệnh qui ước của chiến dịch Castor đã được giải mã. Mọi người trên máy bay đều thở phào nhẹ nhõm. Mệnh lệnh được sĩ quan liên lạc trực chuyển đến cho các chỉ huy sân bay Bạch Mai và Gia Lâm. Chiến dịch không vận nhảy dù xuống lòng chảo ĐBP đã được mở màn vào ngày 20 tháng 11-1953.

Chú thích

* Patrick - Charles Renaud, Aviateur en Indochine - Dien Bien Phu, Nxb Grancher, 2003, 350 trang.

(1) Trên danh nghĩa, Lào đã được Pháp trao trả độc lập trong Khối Liên hiệp Pháp từ năm 1949, do đó Pháp phải ký kết Hiệp định bảo vệ Lào.

(2) GATC, Groupement Aérien Tactique, được tổ chức năm 1950, gồm có 3 nhóm ở Đông Dương: GATAC - Bắc đóng ở Hà Nội, GATAC - Trung đóng ở Huế và GATAC - Nam đóng ở Sài Gòn.

(3) Qua các phi vụ trinh sát, những tấm ảnh chụp thẳng đứng đã được thực hiện theo tỉ lệ 1/10.000, 1/20.000 và 1/25.000.                 

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.