Không để trẻ thiếu sắt
Sắt là một vi chất thông dụng có ở mọi nơi, ngay trong các tế bào cơ thể của các sinh vật. Sắc là phần lõi của hemoglobin, một protein của hồng cầu, đảm bảo sự vận chuyển oxy trong máu đến mỗi tế bào. Nó cũng là thành phần cáu tạo myoglobin, một protein có vai trò trong sự cung cấp oxy cho cơ. Nó có vai trò trong nhiều phản ứng enzym cần thiết cho hoạt động cơ thể. Sắt cấu tạo “hème”, chiếm 70% lượng sắt cơ thể, 30% chất sắc còn lại, có mặt trong các enzym và protein vận chuyển và dự trữ (ferritine, hémesiderine). Sắt này được dự trữ trong gan, tuỷ xương và lách.
Đối với cơ thể, sắt rất cần cho sự nuôi dưỡng các mô, các cơ quan và nhất là bộ não. Sắt cũng cần thiết cho bạch cầu, bảo vệ cơ thể ngăn ngừa nhiễm khuẩn.
![]() |
Sự chuyển hoá sắt thực hiện theo một vòng khép kín: mỗi ngày, khi hồng cầu già bị tiêu huỷ, sắt được thu hồi và sử dụng lại để tạo hồng cầu mới. Nhưng mỗi ngày, cơ thể cũng đào thải một lượng rất nhỏ sắt qua nước tiểu, mồ hôi và mật, cũng như loại trừ liên tục các tế bào chết. Vì vậy, cần bổ sung chất sắt.
So với trọng lượng cơ thể, trẻ con cần 8 lần nhiều sắt hơn người trưởng thành để đáp ứng sự phát triển nhanh. Trẻ con cần sắt mỗi ngày:
- Từ 6 tháng đến 1 năm tuổi: 8 – 10mg;
- Từ 1 đến 10 tuổi: 10mg.
So với lúc mới sinh, khối lượng não bộ của trẻ lúc 6 tháng tuổi tăng gấp đôi, đến 2 năm tuổi tăng gấp 3 và đến 6 tuổi thì tăng bằng người trưởng thành.
Trọng lượng cơ thể đến 2 tuổi được nhân lên 4 lần so với khi mới sinh. Khối lượng máu tất nhiên cũng tăng theo sự phát triển cơ thể.
Nhu cầu về sắt ở trẻ càn thiết nhất sau 4 đến 6 tháng tuổi. Lúc đó, trẻ đã sử dụng hết lượng sắt do mẹ cung cấp trong 3 tháng cuối của thai kỳ. Nếu trẻ bị tiêu chảy mãn tính hay viêm thực quản do trào ngược dạ dày - thực quản, lượng sắt đào thải tăng thêm, nên có nhu cầu bổ sung.
Hậu quả của sự thiếu sắt
Triệu chứng lâm sàng của thiếu máu, thiếu sắt xuất hiện từ từ và phụ thuộc vào mức độ thiếu sắt.
![]() |
Xét nghiệm máu cho thấy: lượng ferritine, chất sắt dự trữ giảm; hồng cầu có kích thước nhỏ, nhược sắc. Trẻ trở nên nhạy cảm với môi trường lạnh, dễ mệt, sinh hoạt chậm chạp, thường bị viêm mũi họng hay bị bệnh tiêu hoá.
Thiếu sắt ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ: năng lực giảm sút, cơ thể không còn đủ sắt để tạo hemoglobin. Trẻ trở nên xanh xao, quấy khóc, vật vã, chán ăn, ngủ ít.
Một số trẻ hiếu động, thiếu tập trung thường là thiếu sắt. Nếu được bổ sung sắt, các rối loạn sẽ giảm rõ rệt.
Để ngăn ngừa thiếu sắt cho trẻ, cần cung cấp thức ăn giàu chất sắt dưới dạng dễ hấp thu như thịt (đỏ) và cá. Ngoài ra, còn có thể dùng sữa, trứng, đậu khô. Sắt trong sữa mẹ được hấp thu tốt nhất (50 – 70%).
Sắt có mặt dưới 2 dạng:
- Dạng “hème”: thịt, gan, huyết, cá. Ruột hấp thu từ 25 – 30% lượng sắt ‘hem’.
- Dạng không thuộc “hème”: ngũ cốc (lúa mì, ngô, thóc, kê…) đậu, rau xanh.
Ruột hấp thu từ 5 – 10% lượng sắt không “hème”. Rau xanh, trái cây và nhất là vitamin C tăng cường sự hấp thu sắt không thuộc “hème”. Vì vậy, trẻ em cần thiết phải ăn trái cây và rau xanh. Trái lại, calci, kẽm, lòng trắng trứng ức chế sự hấp thụ sắt loại này.
![]() |
Để đề phòng thiếu sắt, các bà mẹ nên đi khám thai để được điều trị thiếu máu, thiếu sắt, nếu có. Còn đối với trẻ sinh đủ tháng nên bú sữa mẹ. Khi ăn dặm nên cung cấp đầy đủ các chất.
Thức ăn giàu sắt (mg/ 100g) | |
Sò biển | 26 |
Vẹm | 24 |
Hến | 20 |
Huyết heo | 20 |
Gan heo | 13 |
Gan bò | 10 |
Đậu | 9 |
Lòng đỏ trứng | 6 |
Sò đá | 5,5 |
Thịt | 3 |
Trứng | 2,8 |
Cá, tôm, cua | 1 - 2 |











