Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 26/04/2006 23:03 (GMT+7)

Khoa học công nghệ ở đồng bằng sông Cửu Long – những vấn đề đang đặt ra: Loay hoay với tôm, cá

Nuôi tôm: Đầy bất ổn!

Những cánh đồng rộng ngút ngàn, xanh mướt năm nào giờ chỉ còn màu xám của đất và lấp lóa nước… mặn. Năm 2000, diện tích nuôi tôm của Cà Mau là 153.373 ha thì năm 2006, con số đó xấp xỉ 250.000 ha. Tương tự, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre… đều có diện tích nuôi tôm lớn. Hệ sinh thái mặn đã tạo cho bộ mặt “mỏ tôm” một màu xám đơn điệu.

Sau những vụ mùa bội thu, bắt đầu từ năm 2002 đến nay, tôm chết nhiều. Có mùa, cứ thả giống xuống là chết. Hơn 5 năm lao theo hấp lực mê hồn của tôm sú, không ít người đổi đời, nhưng cũng không ít người trắng tay. Một bộ phận nông dân càng khó khăn hơn vì thất bát. Bà con nói vui: “Người nuôi tôm bây giờ hiền lắm. Nắng không dám than, mưa không dám thở. Hỏi tại sao thì ai cũng bảo rằng nếu lỡ bạo mồm bạo miệng chửi… thề hay chửi… ông trời thì tôm chết ráng chịu!”. Mô hình lúa – tôm từng được xem là lý tưởng nhất của nghề tôm quảng canh, nhưng giờ đã đi vào bế tắc. Ở một số huyện của Cà Mau, mấy năm đầu chuyển dịch còn trồng được vài chục ngàn hécta lúa trên đất nuôi tôm, nhưng gần đây, năng suất lúa giảm đáng kể, có nơi chỉ đạt 1 tấn/ha.

Tôm chết có nhiều nguyên nhân: do bệnh đốm trắng, do thời tiết bất thường và đôi khi nông dân không hiểu vì sao tôm lại chết. Điều chắc chắn là môi trường đã không còn tốt như thời mới chuyển dịch. Ăn theo tôm, chế phẩm sinh học từ các công ty nước ngoài ào ạt đổ xuống đồng tôm, vuông tôm, nhưng hầu như người nuôi không thể hiểu nổi ngoài tác dụng cho tôm chóng lớn, nó còn có tác hại gì. Chỉ thấy rằng chất thải từ “tôm công nghiệp” càng ngày càng nhiều, mà hệ thống thủy lợi thì không thể “thông” nổi.

Toàn bộ hệ thống kênh mương cống bọng sử dụng cho nuôi tôm hiện nay được thừa hưởng từ quá trình ngọt hóa trồng lúa trước kia. Oái oăm, nuôi tôm lại cần một hệ thống thủy lợi khác, mà điều này thì chưa ai có kinh nghiệm. Nguyên tắc đầu - cuối trong xả nước, lấy nước vào vuông tôm cực kỳ lộn xộn do thủy lợi thiếu hoàn chỉnh. Nhà Mát, một phường giáp biển của Thị xã Bạc Liêu mấy năm nay cũng chuyển dịch sang nuôi tôm, nhưng giờ đây, nhiều dòng kênh bồi lắng, cạn kiệt, khiến việc lấy, xả nước vô cùng trắc trở. Khu vực này, chỉ cần một hộ có tôm bị bệnh đốm trắng thì coi như xung quanh chịu chết, bởi người thì xả nước thải, ô nhiễm ra kênh, người khác lại lấy vào vuông tôm, tránh sao được rủi ro?

Cả một vùng tôm rộng lớn như thế, nhưng đến nay vẫn chưa có trại giống tập trung, và chợ tôm quy mô thế nào thì phải… nghiên cứu thêm. Trung bình mỗi năm, cả “mỏ tôm” cần từ 30-35 tỷ con giống, nhưng hơn phân nửa số này phải nhập từ miền Trung. Trong đó, hơn 50% là giống kém chất lượng, không rõ nguồn gốc.

Một cán bộ ngành thủy sản chân tình nói: Như vậy đã là khá lắm rồi, mấy năm trước, phải hơn 80% lượng giống kém. Để giải quyết vấn đề này, nhiều địa phương trong vùng đã bắt đầu trang bị máy xét nghiệm bệnh tôm, chủ yếu để kiểm tra chất lượng tôm giống. Tuy nhiên, cũng dở cười dở khóc. Gần đây, có một xét nghiệm ở địa phương nọ kết luận gan con tôm giống bị… nhiễm mỡ! Nhưng như vậy đã là có tiến bộ. Con tôm sú giống chỉ lớn hơn sợi tóc một chút xíu, nhưng trước đây việc xét nghiệm bệnh tôm chủ yếu bằng… mắt thường!

Phó Giám đốc Sở Thủy sản Sóc Trăng Nguyễn Văn Lai cho rằng, công nghệ sinh học có thể giải quyết được mọi vấn đề, từ ô nhiễm môi trường đến con giống. Gen lúa đã được giải mã, nhưng bộ gen tôm, cá thì chưa. Bao giờ thì nhà khoa học và nhà nông mới gặp được nhau để đưa nghề nuôi tôm lên mức… bền vững?

Nghề cá đang “rụm” dần!

Dọc các cửa biển miền Tây bây giờ, cảnh tàu biển nằm bờ hiện ra trước mắt giống như một bức tranh ảm đạm. Sinh khí nghề cá hàng mấy chục năm nay giờ bỗng chùng xuống như một quả bóng xì hơi. Những thị trấn, thị tứ một thời sung túc và được đánh giá có bước phát triển chưa từng thấy ở vùng biển cực Nam Tổ quốc đang “rụm” dần. Quốc doanh đánh cá Kiên Giang một thời hào hùng là vậy, nhưng giờ cũng đang sống… thoi thóp. Nhiều người từng gắn bó với những địa danh Sông Đốc, Khánh Hội, Cái Đôi Vàm, Bảy Háp, Gành Hào, Trần Đề... nói trong niềm xót xa: “Với đà làm ăn như hiện nay thì không bao lâu nữa, ngư dân nơi đây sẽ được xếp vào diện... nghèo và nợ nhiều nhất nước”.

Hiện nay, vật lực phục vụ việc đánh bắt xa bờ rất hạn chế. Cả vùng biển TâyNamchỉ có một số tàu trang bị được máy định vị, tầm ngư, còn lại là họ chỉ trang bị cho hệ thống thông tin liên lạc và tầm ngư bằng… kinh nghiệm. Chỉ tính riêng hệ thống liên lạc của các tàu cá cũng đã thấy lắm vấn đề. Hầu hết máy móc đều được mua từ nhiều nguồn, không có chủng loại gì cả. Khi cần liên lạc thì dò tần số như… dò radio. Chính vì điều này mà mỗi lần có bão, việc gọi tàu vào đất liền là một việc cực kỳ khó.

Toàn tỉnh Bạc Liêu hiện có trên dưới 1.043 tàu thuyền khai thác biển các loại, trong đó chỉ có 368 chiếc có khả năng đánh bắt xa bờ, chiếm 35,28%. Trong tổng số tàu thuyền này chỉ có 394 chiếc là làm nghề lưới kéo, còn lại làm lưới rê, câu mực, te, xiệp. Nguyên nhân chính là do ngư cụ khai thác biển của ngư dân đa số còn đơn nghề, thiết kế ngư cụ còn mang tính truyền thống, nhiều nhược điểm và chậm được cải tiến. Hầu hết ngư dân thiếu thông tin, thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm, thiết kế ngư cụ kém, chưa phù hợp.

Với đội tàu trên 4.500 chiếc các loại, trong đó có khoảng 1.063 chiếc đánh bắt xa bờ, Cà Mau được xếp vào hàng “anh chị” trong cả nước. Thế nhưng, thiết bị phục vụ cho việc khai thác biển chưa được quan tâm đúng mức. Không có vốn để trang bị máy móc đã đành, nhưng một phần cũng do tình hình an ninh trên biển không tốt nên ngư dân không dám mua những thiết bị phụ trợ đắt tiền. Chú Bảy Kim, một ngư phủ lâu đời tại thị trấn Sông Đốc khua tay: “Tình trạng cướp biển xảy ra liên tục trên vùng biểnTâyNamtrong những năm gần đây làm cho ngư dân ngán ngại đầu tư. Máy tầm ngư, định vị… mỗi cái trên 150 triệu đồng, chưa kể tới những ngư cụ khác và vỏ tàu, nếu bị bắt một chiếc là coi như ôm nợ cả tỷ đồng. Ngư dân ở đây chẳng ai dám mua sắm, trang bị thêm máy móc. Làm bằng kinh nghiệm là chính, được bao nhiêu ăn bấy nhiêu”.

Để đánh bắt xa bờ có hiệu quả, người dân có được lãi cao cần phải có hệ thống dịch vụ hậu cần nghề cá tốt. Hiện nay mọi thứ từ nguyên vật liệu, nhiên liệu… phục vụ đánh bắt xa bờ đều biến động, trong khi giá cả lại thấp nên ngư dân đòi hỏi nhà nước làm sao hỗ trợ tốt công tác hậu cần. Thay vì sau khi đánh được cá, ngư dân phải chạy hàng trăm cây số vào bờ tiếp thêm nhiên liệu, bán cá thì nay họ cần làm việc ấy ngay trên biển.

Bao giờ thì ngư dân- ngoài kinh nghiệm đánh bắt truyền thống còn kết hợp được với kiến thức, thiết bị hiện đại và sản lượng làm ra - có chỗ tiêu thụ với giá cao, thành phẩm tinh chế, xuất ngoại như mong muốn? 

Nguồn: Sài Gòn Giải Phóng13/4/2006

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.
Bác Giáp: Sâu nặng những ân tình với VIFOTЕС
Điều mà những người làm khoa học kính phục ở con người Đại tướng Võ Nguyên Giáp là cả khi khỏe mạnh hay đau yếu, ông vẫn hướng tới việc chung, vì sự nghiệp đổi mới, sáng tạo của đất nước. Khi sức khỏe không còn đủ để đến tham dự các lễ trao giải, tôn vinh nhà khoa học, Đại tướng vẫn dõi theo; các thành viên trong Quỹ và Liên hiệp Hội Việt Nam vẫn đến gặp Đại tướng để báo cáo và nghe chỉ đạo.