Khoa học công nghệ - Giải pháp liên kết khoa học, quản lý và doanh nghiệp trên địa bàn Thủ đô
Công nghiệp Hà Nội thế mạnh và những hạn chế.
Trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, Hà Nội có nhiều lợi thế mở mang, tạo được một hệ thống công nghiệp với nhiều mặt hàng chủ lực có thế mạnh của trên 70 nghìn doanh nghiệp.
Cơ khí và tự động hóalà nhóm ngành tăng trưởng cao, đạt giá trị sản xuất trên 33,638 tỷ đồng, chiếm 40,7% tổng giá trị toàn ngành công nghiệp trên địa bàn… Hà Nội đã sản xuất được nhiều sản phẩm quan trọng, được coi là địa phương dẫn đầu cả nước trong chế tạo thiết bị đồng bộ cho các lĩnh vực thủy điện, nhiệt điện và xi măng. Thiết bị đồng bộ là tiêu chí đánh giá tổng hợp năng lực và trình độ công nghiệp cơ khí; là mối quan tâm hàng đầu trong công nghiệp chế tạo.
Công nghiệp điện - điện tửlà ngành có tốc độ phát triển nhanh, trong giai đoạn 2003 - 2007, giá trị sản xuất đã tăng trên 2,1 lần. Thế mạnh sản phẩm của Hà Nội là động cơ điện, biến thế điện, khí cụ điện, dây và cáp điện; thiết bị điện điều khiển bằng tay và đồ điện gia dụng. Với năng lực sản xuất và chất lượng vượt trội, nhóm hàng này đã chiếm lĩnh được phân lớn thị trường trong nước.
Sản phẩm thế mạnh của ngành Hóa nhựalà phân lân nung chảy sản xuất bằng 100% nguyên liệu trong nước. Cao su là loại hình sản phẩm phong phú, đáp ứng đáng kể nhu cầu trong nước và xuất khẩu đến nhiều quốc gia… Sản phẩm nhựa được xếp hạng tương đương với các nước trong khu vực: 90% năng lực của các công ty dành cho sản xuất theo đơn đặt hàng; trong đó, hơn 70% có chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn yêu cầu của khách hàng Nhật Bản.
Dệt may - da giầylà nhóm ngành có năng lực cạnh tranh và nhiều cơ hội để thâm nhập sâu vào thị trường thế giới. Năm 2008, giá trị sản xuất đạt 7.015 tỷ đồng chiếm 8,5% so với toàn ngành công nghiệp địa phương.
Chế biến thực phẩm, với sản phẩm chính là rượu bia và bánh kẹo, là nhóm ngành có nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm trên 16,5%; giá trị sản xuất năm 2008 chiếm trên 10% so với toàn ngành công nghiệp địa phương. Thành công trong công nghiệp bia rượu, bánh kẹo có được là nhờ vận dụng hiệu quả công nghệ sinh học, sử dụng các loại enzym đặc hiệu để nâng cao tỷ lệ nguyên liệu thay thế và rút ngắn thời gian sản xuất.
So với các tỉnh trong vùng, Hà Nội có điều kiện hạ tầng và lợi thế để thu hút đầu tư; nhưng do năng lực nội sinh, tiềm lực KH & CN doanh nghiệp còn nhiều hạn chế nên Công nghiệp Thủ đô đã chịu nhiều tác động bất lợi trước những biến động kinh tế toàn cầu.
Về năng lực tư vấn thiết kế, chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế. Tồn tại nổi bật ở mọi nhóm ngành là thiếu hiểu biết công nghệ và thị trường; phần đông kỹ sư, nhà khoa học có chuyên môn hẹp. Mặt khác, tình trạng phân tán, thiếu đồng bộ trong sử dụng thiết bị và nhân lực khoa học công nghệ đã ảnh hưởng bất lợi, hạn chế đến năng lực tự chủ trong thiết kế chế tạo và mở mang, phát triển thị trường công nghệ.
Năng lực chế tạo, ngành cơ khí mới làm được những chi tiết thân máy đơn giản bằng công nghệ đúc, hàn, rèn dập, với chất lượng phôi không cao. Sản xuất điện - điện tử, chủ yếu lắp ráp với trình độ công nghệ thấp, đang ở giai đoạn khởi đầu (giai đoạn I). Trong sản xuất hóa nhựa, hầu như toàn bộ nguyên liệu cho sản xuất đều phải nhập khẩu, tỷ trọng vật liệu trong nước chiếm khoảng 1%. Dệt may - da giầy là nhóm mặt hàng chủ lực trong chiến lược kinh tế hướng về xuất khẩu; nhưng sản xuất đang đi theo hướng gia công nên giá trị gia tăng rất thấp; phấn lớn nguyên vật liệu, phụ liệu đều phải nhập khẩu, cho nên kim ngạch xuất khẩu đạt cao, nhưng thu nhập và lợi nhuận đem về lại không đáng kể.
Tình trạng phân tán, thiếu hợp tácđã nảy sinh độc quyền, gây lãng phí lớn trong xây dựng và nhiều sản phẩm chủ lực vẫn trong tình trạng của ngành công nghiệp lắp ráp hoặc gia công. Lắp ráp, gia công là những công đoạn cần ít chất xám, nhưng lại tiêu tốn nhiều năng lượng và có giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đây chính là hạn chế cơ cấu, nếu chậm khắc phục công nghiệp Thủ đô sẽ bị tụt hậu xa so với trình độ khu vực.
Khoa học công nghệ và vai trò liên kết hợp tác trên địa bàn
Nhiều năm qua, hoạt động KH&CN Thủ đô đã phát triển theo hướng tập trung nghiên cứu đổi mới, ứng dụng và phát triển công nghê thông qua việc tiếp nhận có lựa chọn công nghệ, đồng thời từng bước đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng.
Các tổ chức KH&CN đã chú ý đào tạo, bồi dưỡng, hình thành đội ngũ cán bộ nắm bắt, làm chủ và sử dụng thành thạo trang thiết bị hiện đại. Đây là những nhân tố quan trọng phục vụ nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và hỗ trợ có hiệu quả cho sản xuất kinh doanh của các ngành hàng. Trong hoạt động KH&CN, những kết quả bước đầu của các mô hình thử nghiệm đã mang lại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp và tổ chức nghiên cứu, mở ra nhiều khả năng gắn kết nghiên cứu với sản xuất. Cùng với công nghệ và thiết bị, tổ chức KH&CN đã coi trọng và thực hiện tốt chức năng đào tạo, bồi dưỡng, hỗ trợ nhân lực KHCN cho các tổ chức tiếp nhận công nghệ chuyển giao. Cách làm phù hợp là tập hợp những đơn vị có lợi ích độc lập thành một tổ chức hợp tác, lấy doanh nghiệp làm trung tâm để mở rộng hoạt động nghiên cứu và phát triển. Theo hướng này, việc áp dụng tiến bộ công nghệ trong doanh nghiệp đã phát huy hiệu quả rõ rệt, mở ra triển vọng mới trong thúc đẩy hoạt động KH&CN hướng về doanh nghiệp.
Mối quan hệ gắn kết giữa hoạt động KH&CN với sản xuất trong ngành Công nghiệp Hà Nội được thể hiện trên nhiều lĩnh vực, từ cơ khí - tự động hóa, điện - điện tử - CNTT đến hóa nhựa, dệt may - da giầy và chế biến thực phẩm. Thông qua liên kết, liên doanh, nhiều thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến được vận dụng có hiệu quả, tạo ra nhiều sản phẩm có hàm lượng khoa học công nghệ cao. Vận dụng tiến bộ công nghệ vào sản xuât những sản phẩm chủ lực tạo nền móng quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành và nhất là nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm trong nước. Kết quả này đã giúp Công nghiệp Thành phố tăng trưởng với nhịp độ cao liên tục nhiều năm và kim ngạch xuất khẩu không ngừng gia tăng.
Trong nhiều trường hợp, hoạt động liên kết đã giúp doanh nghiệp tiết kiệm đáng kể kinh phí đầu tư mua sắm trang thiết bị để đổi mới công nghệ và sản phẩm. Tại nhiều tổ chức nghiên cứu, nguồn thu từ các hợp đồng kinh tế chuyển giao tiến bộ công nghệ, thiết kế, chế tạo máy móc, thiết bị chuyên dùng chiếm đến 70% trong nguồn thu của đơn vị. Nhiều công trình nghiên cứu được đánh giá cao tại các diễn đàn khoa học trong và ngoài nước cũng khởi đầu từ những ý tưởng trong sự kết hợp giữa các nhà khoa học với các nhà sản xuất và từ những khó khăn trong sản xuất.
Mặc dù có những thành công, song với vai trò của một Trung tâm KH&CN hàng đầu đất nước, thì hoạt động KH&CN Thủ đô vẫn đang còn nhiều bất cập, chưa tập trung thích đáng cho những định hướng quan trọng của sản xuất nên còn tồn tại sự lệch pha giữa nghiên cứu và sản xuất.
Trong bối cảnh hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, công nghệ được coi là nhân tố quyết định nâng cao năng lực cạnh tranh. Chừng nào tác động của sản xuất đến KH&CN còn hạn chế thì mối quan hệ giữa sản xuất và KH&CN chưa thực sự là quan hệ tương tác hai chiều. Muốn có năng lực công nghệ phù hợp trong sự biến động, doanh nghiệp phải không ngừng đầu tư đổi mới. Yêu cầu này đòi hỏi ngành KH&CN Thủ đô phải có những giải pháp nâng cao tiềm lực công nghệ nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực của doanh nghiệp đến cả vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và trong cả nước.
Giải pháp thúc đẩy khoa học công nghệ trong tổ chức liên kết
Để nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm công nghiệp, khoa học công nghệ ngày càng thể hiện vai trò quyết định. Trong điều kiện ngày nay, muốn thúc đẩy phát triển Công nghiệp Thủ đô cần phải xây dựng được mối quan hệ liên kết phù hợp giữa khoa họa và quản lý với doanh nghiệp. Vì vậy, ngành công nghiệp Hà Nội đã xây dựng một đề án nhằm tăng cường liên kết 3 nhà khoa học, quản lý và doanh nghiệp, theo đó, nhiều nhiệm vụ KH&CN đã được đặt ra khá rõ ràng.
Thứ nhất, đối với cơ quan quản lý, vấn đề hàng đầu là khuyến khích, giúp doanh nghiệp xây dựng thương hiệu, kiểu dáng sản phẩm thông qua việc hỗ trợ chi phí mua bản quyền, thiết kế kiểu dáng sản phẩm. Môi trường pháp lý cho hoạt động KH&CN là yếu tố quan trọng để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ. Vì vậy, việc thực thi nghiêm túc chính sách bảo hộ sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghiệp,… được thành phố đặc biệt quan tâm cùng với tăng cường tiềm lực KHCN cho các tổ chức có liên quan, để nâng cao năng lực kiểm tra, kiểm định, đáp ứng yêu cầu về chất lượng và việc kiểm soát chất lượng ngày một gia tăng. Cùng với nhiệm vụ quản lý nhà nước, việc khai thác năng lực tư vấn thiết kế; tăng cường hợp tác giữa các cơ quan nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp hình thành chuỗi liên kết trong tiếp cận công nghệ hiện đại cũng là một nhiệm vụ lớn đặt ra.
Xã hội hóa hoạt động KH&CN, nhằm phát triển thị trường khoa học công nghệ, mạng lưới thông tin, lập Hiệp hội các nhà tư vấn chuyển giao công nghệ, khuyến khích phát triển các tổ chức môi giới, tư vấn dịch vụ KHCN và những trung tâm đánh giá, thẩm định công nghệ trên địa bàn.
Thành phố dành một tỷ lệ thích đáng đầu tư cho các công trình dự án ứng dụng, triển khai đưa công nghệ vào sản xuất. Theo hướng này, cần đầu tư công nghệ tiên tiến cho một số doanh nghiệp có thể đảm nhận được vai trò dẫn dắt trong chuỗi liên kết; thực hiện việc cải biến và chuyển giao công nghệ mới cho doanh nghiệp theo nhiều hình thức.
Thứ hai,về phía doanh nghiệp, từ đặc điểm doanh nghiệp công nghiệp thành phố, Hà Nội chủ trương khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ thiết bị, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuât. Đối với các dự án đầu tư nước ngoài và đầu tư mới và chuỗi liên kết sản xuất thiết bị đồng bộ doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ; không chấp nhận công nghệ, thiết bị cũ lạc hậu, mà lựa chọn ứng dụng công nghệ thích hợp với từng giai đoạn phát triển. Đối với những cơ sở đã sản xuất kinh doanh, việc đổi mới công nghệ và thiết bị thực hiện từng phần, tập trung vào đổi mới, thay thế công nghệ thiết bị cũ bằng thiết bị và công nghệ hiện đại.
Hướng vào liên kết 3 nhà, việc đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp thực hiện theo hướng kết hợp với các kế hoạch nghiên cứu thị trường để định ra những trọng tâm cần phối hợp thực hiện. Do vậy, các doanh nghiệp cần hình thành bộ phận nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới để nghiên cứu thử nghiệm, tạo ra sản phẩm có những tính năng ưu việt.
Thứ ba, đối với các tổ chức khoa học, liên kết Khoa học - Quản lý và Doanh nghiệp là cơ hội để các tổ chức khoa học phát huy tiềm lực nội sinh, đóng góp thiết thực vào phát triển công nghiệp. Đề xuất trong đề án của ngành Công nghiệp Hà Nội đã tập trung theo hướng: Thực hện chuyên môn hóa sâu các cơ sở nghiên cứu có sẵn nhằm đáp ứng việc nghiên cứu, thiết kế và chế tạo cho các công trình thiết bị toàn bộ của nhiều lĩnh vực. Sử dụng các tổ chức nghiên cứu, các công ty tư vấn Việt Nam làm nhà thầu phụ cho các công ty tư vấn thiết kế nước ngoài trong những công trình cỡ lớn, để các nhà thiết kế, chế tạo và tư vấn Việt Nam có cơ hội tiếp thu, cập nhật được thành tự khoa học của các chuyên ngành thế giới mà chúng ta đang cần tiếp cận. Tăng cường hơn nữa việc hợp tác của các tổ chức khoa học trong nước với các nhà thiết kế, tư vấn nước ngoài; mở rộng việc phối hợp trong các các chương trình nghiên cứu, hợp tác quốc tế nhằm làm rõ những vấn đề nguyên lý, làm chủ kết quả nghiên cứu và vận dụng thành quả nghiên cứu trong hoạt động doanh nghiệp.
Đầu tư nghiên cứu, phát triển công nghệ là việc làm tốn kém song hiệu quả xã hội mang lại lớn gấp nhiều lần những đầu tư khác. Với hiện trạng nghiên cứu trên địa bàn, Nhà nước cần hỗ trợ kinh phí để các cơ quan khoa học và doanh nghiệp có thể chuyển hóa từ nghiên cứu bắt chước sang sáng tạo công nghệ; giải mã phần công nghệ ẩn dấu trong hàng hóa được lưu thông trên thị trường, làm chủ công nghệ nhập khẩu để doanh nghiệp từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm, đủ tiêu chuẩn để hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu.








