Khả năng chống ung thư của rau má
Các nghiên cứu về rau má
Rau má (Centella asiatica) là một cây nhiệt đới đã được sử dụng trong các nền dược học dân gian để trị một số bệnh như phỏng, bệnh về tĩnh mạch và ung loét ngoài da. Các nghiên cứu khoa học đã xác nhận dùng rau má bằng cách uống hay thoa đắp ngoài da giúp vết thương mau lành. Rau má được dùng uống để trị các bệnh về tĩnh mạch như sa tĩnh mạch ở chân, sưng phù.
Các triterpenoid của rau má có thể có hoạt tính diệt bào (in vitro), nhưng cho đến nay mới chỉ có một nghiên cứu xác định hoạt tính này. Nghiên cứu này cũng đã ghi nhận phần trích terpenoid của rau má diệt được các tế bào ung thư loại lymphoma Dalton và Ehrlich, nhưng không xác định chính xác loại terpenoid nào. Trong khi đó hoạt tính diệt bào của các triterpenoid loại ursane như acid ursolic và oleanolic lại được chú ý nhiều hơn. Các nghiên cứu in vitro về acid ursolic và oleanolic ghi nhận các acid này có khả năng ngăn chặn sự phát triển của một số tế bào ung thư. Mặt khác cả acid oleanolic và acid ursolic đều làm giảm sự sinh sản của tế bào nội mạc, các triterpinoid này rất có thể sẽ hữu dụng để trị ung thư bằng cách ngăn chặn tiến trình sinh mạch (angiogenesis).
Các acid oleanolic và ursolic cũng có các tác động chống u bướu (in vivo): liều 50 - 100 mg/kg acid oleanolic hay acid ursolic, dùng bằng cách chích qua phúc mạc ức chế được sự tăng trưởng của bướu độc loại sarcoma ở khoảng 30% chuột (liều thấp hơn không có tác động). Các hợp chất này cũng còn bảo vệ hệ miễn nhiễm của chuột chống lại tác hại của các bức xạ. Liều tương đương cho người được định là khoảng 1,3 g/ngày (uống). Do khả năng chống u bướu này nên một đặc chế tại Nhật Bản đã được dùng để trị ung thư máu (nonlymphatic leukemia). Tuy nhiên để dễ ứng dụng trong dân gian cần chú ý đến hoạt tính của toàn cây rau má hơn là các hoạt chất chính đã được ly trích và tinh chế.
Cơ chế chống ung thư của rau má
Rau má, do hoạt tính ức chế men collagenase và men hyalu ronidase, có thể có khả năng chống ung thư qua các tiến trình:
- Ngăn chặn sự sinh mạch.
- Ức chế hoạt động của bFGF (basic fibroblast growth factor).
- Gây trở ngại cho sự thẩm thấu mạch máu.
- Ngăn chặn sự xâm nhập tế bào ung thư.
- Ngăn chặn sự chuyển di tế bào.
- Ức chế di căn.
Nghiên cứu cho thấy việc uống một dịch chiết rau má chứa lượng cao terpinoid 1 g/kg trong 5 ngày, uống cách nhật, ức chế được sự tăng trưởng của bướu ung thư và kéo dài được thêm thời gian sống của chuột bị chích tế bào lymphoma vào cơ thể. Sự ức chế rõ rệt hơn khi chuột được cho dùng dịch chiết rau má trước khi chích tế bào ung thư vào cơ thể. Kết quả không rõ rệt khi bắt đầu cho chuột dùng dịch chiết rau má 10 ngày sau bị chích tế bào ung thư. Liều tương đương để áp dụng nơi người là vào khoảng 4,8 g/ngày. Trong nghiên cứu này hoạt tính ức chế bướu ung thư có lẽ không do tác động diệt bào nhưng do tác động ức chế bướu gián tiếp do giảm cường độ thẩm thấu của mạch máu.
Liều lượng sử dụng
Dựa trên các kết quả thực nghiệm và các số liệu dược lực học, một số liều trị liệu đã được đề nghị.
Liều thấp nhất có thể dùng để có tác dụng sinh học và không gây các phản ứng phụ của acid asiatic được định là 2,7 g/mỗi ngày.
Nếu dùng rau má ở những liều cao hơn, có thể gặp phản ứng phụ. Nước ép rau má tươi có thể gây các tác động chống thụ thai ở chuột khi cho uống với liều tương đương 10 g toàn cây. Hoạt tính gây chống thụ thai này là do acid oleanolic gây ra nơi chuột đực bằng ức chế sự tạo sinh tinh trùng. Acid oleanolic và các triterpinoid khác cũng tác động trên men testosteron 5 alpha-reductase, có thể gây tác động vô sinh nhưng lại có thể dùng để trị ung thư tuyến tiền liệt.
Nguồn: Khoa học phổ thông, 5/2008








