Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 03/12/2007 15:46 (GMT+7)

Kết quả nghiên cứu xây dựng rừng trồng trên đụn cát bay ven biển tỉnh Quảng Bình.

1. Phương pháp nghiên cứu


- Sử dụng phương pháp nghiên cứu ngoài đồng ruộng thông thường để thiết lập các thí nghiệm.


- Theo dõi và thu thập số liệu về tỷ lệ sống, Doo, Hvn, Dt, Lt, số cành/ cây trên diện tích thí nghiệm theo định kỳ 1,2 và 3 năm.


- Dung lượng mẫu quan sát ³30 cây. Xử lý số liệu bằng phương pháp phân tích phương sai mô hình 1 nhân tố.


- Bố trí các ô thí nghiệm theo khối, 3 lần lặp. Các thí nghiệm được thiết kế theo các yêu cầu sau:


- Loài cây: Phi lao hạt, Phi lao hom, A. difficilis, A. torulosa, A. tumida, A. crassicarpatrồng với mật độ 5.000 cây/ha. Cây được ươm trong bầu Polyêtylen kích thước 9x12cm đối với Keo và 13x18cm đối với Phi lao, dán đáy, đục lỗ.


- Đào hố kích thước 40x40x60cm, độn lá, rác, cỏ trong hố khi trồng theo 2 mức là 0,5 và 1 kg/hố, bón lót 1kg hoặc 0,5kg phân chuồng hoai /hố và bón thúc 3 năm đầu, mỗi năm 100g/hố phân NPK Sông Gianh với thành phần chất độn 75%, N 10%, P 2O 510%, K 2O 5%. Có đo đếm số liệu so sánh với đối chứng là thí nghiệm không bón phân chuồng, rác, NPK và rừng trồng Phi lao của Lâm trường Nam Quảng Bình.


- Tiêu chuẩn cây con: Phi lao cao 1,1-1,3m, keo chịu hạn cao 0,6-0,8m.


2. Ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật đến rừng trồng trên đụn cát bay


Kết quả đo đếm, tính toán, so sánh các chỉ tiêu sinh trưởng, mức độ che chắn của Phi lao hạt, Phi lao hom dòng 601, A. torulosa, A. difficilis, A. tumida, A. crassicarpaở các thí nghiệm bón phân, độn rác được trình bày theo 3 giai đoạn 1, 2 và 3 năm tuổi như sau:


2.1. Rừng trồng 1 năm tuổi:


Sau khi trồng cây trên các ô thí nghiệm vẫn bị cát lấp hoặc vùi làm chết nhưng được trồng dặm và chăm sóc kịp thời nên sau 12 tháng tỷ lệ cây sống đạt khá cao 83-100%, trừ một vài ô thí nghiệm nằm ở khe đụn cát, địa hình tạo thành cửa gió thổi rất mạnh làm cây bị bốc hoặc bị cát lấp nên tỷ lệ sống còn 60-77%.


a. Đối với phi lao:


Trong 5 công thức thí nghiệm về lượng bón phân chuồng, độn rác và bón NPK cho Phi lao hạt trong giai đoạn 1 năm tuổi cho thấy ở công thức bón phân chuồng và độn lá rác trong hố trồng nhiều hơn thì tỷ lệ sống và tỷ lệ số cây bị khô ngọn ít hơn. Bón 1kg phân chuồng và độn 1 kg lá rác/hố thì tỷ lệ sống là 98,3% và chỉ có 6,7% số cây bị khô ngọn (công thức 1); bón 0,5kg phân chuồng/hố thì tỷ lệ sống 93,8% và số cây bị khô ngọn là 23,1% (công thức 3); ở công thức không bón phân chuồng và không độn lá, rác thì tỷ lệ sống đạt 87,8% và có tới 33,3% số cây bị khô ngọn (công thức 5).


Sinh trưởng đường kính gốc, số cành/cây của Phi lao hạt có sự khác nhau đối với mức phân bón và lá độn. Sinh trưởng về chiều cao cây thì chưa có sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm. Tuy nhiên các chỉ tiêu sinh trưởng của Phi lao hạt đều đạt cao hơn ở công thức bón 1kg phân chuồng, độn 1kg lá rác và bón 100g NPK trong năm đầu (công thức 1).


Phi lao hom dòng 601 ở giai đoạn 1 năm tuổi đạt tỷ lệ sống 93,8-100%, cao hơn Phi lao hạt và bị khô ngọn 6,7-13,3%, ít hơn Phi lao hạt. Các giá trị đo đếm về sinh trưởng của Phi lao hom cho thấy có ảnh hưởng của lượng bón phân chuồng, độn rác và bón phân NPK theo chiều hướng như phi lao hạt (công thức 6, 7, 8) nhưng kết quả phân tích phương sai cho thấy chúng chưa có sự sai khác rõ rệt.

Biểu 1: Sinh trưởng của rừng trồng 1 năm tuổi. Như vậy, trong giai đoạn 1 năm tuổi Phi lao hom có các chỉ tiêu sinh trưởng không chênh lệch nhiều so với phi lao hạt nhưng tỷ lệ số cây bị khô ngọn ít hơn Phi lao hạt 0,4-1 lần. Điều này có thể do đặc tính chịu khô hạn của Phi lao hom cao hơn Phi lao hạt.


b. Đối với các loài keo chịu hạn


Trong 4 loài keo thử nghiệm thì chúng có tỷ lệ sống từ 75 đến 99% (Trừ ô thí nghiệm của A. torulosaở phía cửa gió nên cây bị gió thổi bốc, trơ rễ chết tới 40% số cây). Điều quan trọng là các loài keo này không bị khô ngọn như đối với Phi lao. Kết quả phân tích phương sai cho thấy chỉ tiêu D oocủa loài A. torulosacó sự sai khác rõ rệt còn Hvn của A. torulosavà Doo, Hvn của A. difficilischưa có sự sai khác rõ rệt giữa các công thức bón phân, độn lá.


công thức bón phân chuồng 1kg/hố, độn 1kg rác/hố và bón 100g NPK trong năm đầu (công thức 9 và 14) thì các chỉ tiêu đường kính gốc, chiều cao, đường kính tán và số cành của cả 4 loài Keo chịu hạn có xu hướng cao hơn ở các công thức bón phân chuồng, độn rác, bón NPK ít hơn hoặc không bón.


Ậđó Phi lao hạt (D 00=0,8cm, Hvn=0,9m, Hdc=0,1m, Dt=0,4m, có 7 cành dài hơn 20cm/cây) và phi lao hom đạt cao nhất (D 00=0,8cm, Hvn=1,0m, Hdc=0,1m, Dt=0,4m, có 3 cành dài hơn 20cm/cây), sau đó đến A. torulosa(D 00=0,9cm, Hvn=0,8m, Hdc=0,12, Dt=0,9m, có 5 cành dài trên 20cm/ cây), A. difficilis(D 00=0,8cm, Hvn=0,9m, Hdc=0m, Dt=0,9m, có 8 cành dài trên 20cm/cây), thấp hơn cả là A. tumida(D 00=0,6cm, Hvn=0,8m, Hdc=0m, Dt=0,5m, có 6 cành dài trên 20cm/cây) và A. crassicarpa(D 00=0,7cm, Hvn=0,4m, Hdc=0m, Dt=0,3m, có 4 cành dài trên 20cm /cây).


Như vậy, ở giai đoạn 1 năm tuổi, trong 5 loài cây trồng thử nghiệm trên cát di động, chỉ có Phi lao bị khô ngọn nhiều, các loài keo không bị khô ngọn. Phi lao, A. torulosaA. difficilisthể hiện trội hơn về sinh trưởng và mức độ che chắn so với A. tumidaA. crassicarpa. Cây trồng của cả 5 loài ở công thức bón 1kg phân chuồng, độn 1kg lá rác và bón 100g NPK có tỷ lệ sống cao hơn, sinh trưởng tốt hơn cả.


2.2. Rừng trồng 2 năm tuổi


a. Đối với Phi lao:


công thức bón phân chuồng và độn lá rác trong hố trồng nhiều hơn thì tỷ lệ sống và tỷ lệ số cây bị khô ngọn ít hơn. Bón 1kg phân chuồng và độn 1 kg lá rác/hố thì tỷ lệ sống là 98,1% và có 36,7% số cây bị khô ngọn (công thức 1); bón 0,5kg phân chuồng/hố thì tỷ lệ sống 93% và số cây bị khô ngọn là 38,4% (công thức 3); ở công thức không bón phân chuồng và không độn lá, rác thì tỷ lệ sống là 87,8% và có tới 80,2% số cây bị khô ngọn (công thức 5).

So với giai đoạn 1 năm tuổi thì rừng Phi lao hạt 2 năm tuổi có tỷ lệ sống sống giảm không đáng kể nhưng số cây bị khô ngọn lại tăng 2,4-5,5 lần.


Sinh trưởng của cây trồng có sự khác nhau đối với mức phân bón và lá độn. Cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt hơn ở công thức bón 1kg phân chuồng, độn 1kg lá rác và bón 200g NPK trong 2 năm đầu (công thức 1).


Phi lao hom dòng 601 ở giai đoạn 2 năm tuổi đạt tỷ lệ sống 93,6-99,3% và bị khô ngọn 8,3-13,0%, ít hơn Phi lao hạt. Lượng bón phân chuồng và độn lá rác có ảnh hưởng đến sinh trưởng và mức độ dày rậm của bộ phận tán cây (công thức 6, 7, 8). Trong giai đoạn 2 năm tuổi Phi lao hom có các chỉ tiêu sinh trưởng sấp xỉ Phi lao hạt nhưng tỷ lệ số cây bị khô ngọn 8,3-13,0%, ít hơn Phi lao hạt rất nhiều (4-6 lần).

b. Đối với các loài Keo chịu hạn

Biểu 1: Sinh trưởng của rừng trồng 1 năm tuổi.
Biểu 2: Sinh trưởng của rừng trồng 2 năm tuổi.Tỷ lệ sống của 4 loài keo thử nghiệm ở giai đoạn 2 năm tuổi đạt trung bình từ 75,6 đến 100%. Các loài keo này không hề bị khô ngọn như đối với Phi lao.


công thức bón phân chuồng 1kg/hố, độn 1kg rác/hố và bón 100g NPK trong năm đầu (công thức 9 và 14) thì các chỉ tiêu đường kính gốc, chiều cao, đường kính tán và số cành của Keo chịu hạn có xu hướng cao hơn ở các công thức bón phân chuồng, độn rác, bón NPK ít hơn hoặc không bón. đó A. torulosađạt D 00=3,1cm, Hvn=2,0m, Hdc=0,4, Dt=1,7m, có 12 cành dài trên 20cm/ cây), A. difficilis(D 00=2,8cm, Hvn=1,8m, Hdc=0,3m, Dt=1,3m, có 15 cành dài trên 20cm/cây), sau đó đến Phi lao hạt (D 00=1,7cm, Hvn=1,1m, Hdc=0,1m, Dt=1,0m, có 24 cành dài hơn 20cm/cây) và Phi lao hom (D 00=1,5cm, Hvn=1,1m, Hdc=0m, Dt=0,7m, có 12 cành dài hơn 20cm/cây), thấp hơn cả là A. tumida(D 00=1,2cm, Hvn=0,9m, Hdc=0,2m, Dt=1,1m, có 15 cành dài trên 20cm/cây) và A. crassicarpa(D 00=2,7cm, Hvn=1,0m, Hdc=0,1m, Dt=1,4m, có 12 cành dài trên 20cm /cây).


Biểu 3: Sinh trưởng của rừng trồng 3 năm tuổi.Như vậy, ở giai đoạn 2 năm tuổi, trong 5 loài cây trồng thử nghiệm trên cát di động, chỉ có Phi lao bị khô ngọn nhiều và gia tăng so với giai đoạn 1 năm tuổi, các loài Keo không bị khô ngọn. A. torulosaA. difficilisvượt hẳn về sức sinh trưởng và mức độ che chắn so với Phi lao, A. tumidaA. crassicarpa. Cây trồng của cả 5 loài ở công thức bón 1kg phân chuồng, độn 1kg lá rác, bón 100g NPK có tỷ lệ sống cao hơn và sinh trưởng tốt hơn.

2.3. Rừng trồng 3 năm tuổi

a. Đối với Phi lao:


Các số liệu của rừng trồng Phi lao hạt 3 tuổi ở 5 công thức thí nghiệm về lượng bón phân chuồng, độn rác và bón NPK chỉ ra rằng: ở công thức bón phân chuồng và độn lá rác nhiều hơn thì tỷ lệ sống và tỷ lệ số cây bị khô ngọn ít hơn. Bón 1kg phân chuồng và độn 1 kg lá rác/hố thì tỷ lệ sống là 98% và có 46,7% số cây bị khô ngọn (công thức 1); bón 0,5kg phân chuồng/hố, tỷ lệ sống 93,5% và số cây bị khô ngọn là 50,0% (công thức 3); ở công thức không bón phân chuồng và không độn lá, rác thì tỷ lệ sống là 87,7% và có tới 100% số cây bị khô ngọn (công thức 5). Rừng Phi lao hạt 3 tuổi có tỷ lệ sống giảm không đáng kể nhưng số cây bị khô ngọn lại tăng 3-7,6 lần so với giai đoạn 1 năm tuổi và tăng 1,3-1,4 lần so với giai đoạn 2 năm tuổi.


Sinh trưởng đường kính gốc, chiều cao cây, đường kính tán và số cành/cây của Phi lao hạt có sự khác nhau đối với mức phân bón và lá độn. Các chỉ tiêu sinh trưởng của Phi lao hạt đều đạt cao hơn ở công thức bón 1kg phân chuồng, độn 1kg lá rác và bón 300g NPK trong 3 năm đầu (công thức 1).


b. Đối với các loài Keo chịu hạn


Tỷ lệ sống của 3 loài Keo ở giai đoạn 3 tuổi đạt trung bình từ 75 đến 99%, không giảm nhiều so với giai đoạn 1 và 2 năm tuổi, A. difficiliscó tỷ lệ sống cao nhất. Cả 3 loài Keo đều không hề bị khô ngọn trong suốt 3 năm.


công thức bón phân chuồng 1kg/hố, độn 1kg rác/hố và bón 100g NPK trong năm đầu (công thức 9 và 14) thì các chỉ tiêu sinh trưởng và mức độ che chắn của tán cây cao hơn ở các công thức bón phân chuồng, độn rác, bón NPK ít hơn hoặc không bón.


A. torulosa
đạt D 00=3,9cm, Hvn=2,3m, Hdc=0,6, Dt=2,1m, 22 cành dài trên 50cm/ cây), A. difficilisđạt D 00=3,8cm, Hvn=1,9m, Hdc=0,1m, Dt=1,8m, 36 cành dài trên 50cm/cây), sau đó đến Phi lao hạt (D 00=2,0cm, Hvn=1,3m, Hdc=0m, Dt=1,1m, 10 cành dài hơn 50cm/cây) và A. tumida(D 00=2,5cm, Hvn=1,4m, Hdc=0,3m, Dt=1,7m, 22 cành dài trên 50cm/cây).


Như vậy, ở cả 3 giai đoạn 1, 2 và 3 năm tuổi, trong 5 loài cây trồng thử nghiệm trên cát di động, chỉ có Phi lao bị khô ngọn nhiều và gia tăng so với giai đoạn 1 và 2 năm tuổi, các loài Keo không bị khô ngọn ngay từ khi trồng. Về sức sinh trưởng và mức độ dày rậm, che chắn của bộ phận tán lá thì A. difficilisA. torulosatrội hơn cả, Phi lao và A. tumidasinh trưởng chậm hơn và có tán lá nhỏ, thưa hơn.


Cây trồng của cả 5 loài ở công thức bón 1kg phân chuồng, độn 1kg lá rác, bón mỗi năm 100g NPK có tỷ lệ sống cao hơn và sinh trưởng tốt hơn. Chứng tỏ A. difficilisA. difficilislà hai loài cây thích hợp nhất trong các loài cây thử nghiệm để trồng rừng phòng hộ trên cát di động.


3. Kết luận


1. Cho tới giai đoạn rừng 3 năm tuổi trồng trên đụn cát bay, loài A. difficilis, A. torulosacó khả năng tồn tại, sinh trưởng, mức độ dày rậm lớn nhất. Các loài Phi lao A. tumida, A. crassicarpacũng tồn tại được trên đụn cát bay nhưng sinh trưởng kém hơn, bộ tán lá thưa, nhỏ hơn. Phi lao hom ít bị khô ngọn hơn và sinh trưởng tốt hơn Phi lao hạt.


2. Rừng trồng Phi lao, A. difficilis, A. torulosa, A. tumidaA. crassicarpađượcđộn mỗi hố 1kg lá rác, bón lót 1 kg phân chuồng, bón thúc 100g NPK mỗi năm thì sinh trưởng tốt hơn ở các công thức bón ít hơn hoặc không bón.

Nguồn: dof.mard.gov.vn

Biểu 3: Sinh trưởng của rừng trồng 3 năm tuổi.
Biểu 2: Sinh trưởng của rừng trồng 2 năm tuổi.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.