Kết quả nghiên cứu xây dựng rừng trồng trên đụn cát bay ven biển tỉnh Quảng Bình.
1. Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu ngoài đồng ruộng thông thường để thiết lập các thí nghiệm.
- Theo dõi và thu thập số liệu về tỷ lệ sống, Doo, Hvn, Dt, Lt, số cành/ cây trên diện tích thí nghiệm theo định kỳ 1,2 và 3 năm.
- Dung lượng mẫu quan sát ³30 cây. Xử lý số liệu bằng phương pháp phân tích phương sai mô hình 1 nhân tố.
- Bố trí các ô thí nghiệm theo khối, 3 lần lặp. Các thí nghiệm được thiết kế theo các yêu cầu sau:
- Loài cây: Phi lao hạt, Phi lao hom, A. difficilis, A. torulosa, A. tumida, A. crassicarpatrồng với mật độ 5.000 cây/ha. Cây được ươm trong bầu Polyêtylen kích thước 9x12cm đối với Keo và 13x18cm đối với Phi lao, dán đáy, đục lỗ.
- Đào hố kích thước 40x40x60cm, độn lá, rác, cỏ trong hố khi trồng theo 2 mức là 0,5 và 1 kg/hố, bón lót 1kg hoặc 0,5kg phân chuồng hoai /hố và bón thúc 3 năm đầu, mỗi năm 100g/hố phân NPK Sông Gianh với thành phần chất độn 75%, N 10%, P 2O 510%, K 2O 5%. Có đo đếm số liệu so sánh với đối chứng là thí nghiệm không bón phân chuồng, rác, NPK và rừng trồng Phi lao của Lâm trường Nam Quảng Bình.
- Tiêu chuẩn cây con: Phi lao cao 1,1-1,3m, keo chịu hạn cao 0,6-0,8m.
2. Ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật đến rừng trồng trên đụn cát bay
Kết quả đo đếm, tính toán, so sánh các chỉ tiêu sinh trưởng, mức độ che chắn của Phi lao hạt, Phi lao hom dòng 601, A. torulosa, A. difficilis, A. tumida, A. crassicarpaở các thí nghiệm bón phân, độn rác được trình bày theo 3 giai đoạn 1, 2 và 3 năm tuổi như sau:
2.1. Rừng trồng 1 năm tuổi:
Sau khi trồng cây trên các ô thí nghiệm vẫn bị cát lấp hoặc vùi làm chết nhưng được trồng dặm và chăm sóc kịp thời nên sau 12 tháng tỷ lệ cây sống đạt khá cao 83-100%, trừ một vài ô thí nghiệm nằm ở khe đụn cát, địa hình tạo thành cửa gió thổi rất mạnh làm cây bị bốc hoặc bị cát lấp nên tỷ lệ sống còn 60-77%.
a. Đối với phi lao:
Trong 5 công thức thí nghiệm về lượng bón phân chuồng, độn rác và bón NPK cho Phi lao hạt trong giai đoạn 1 năm tuổi cho thấy ở công thức bón phân chuồng và độn lá rác trong hố trồng nhiều hơn thì tỷ lệ sống và tỷ lệ số cây bị khô ngọn ít hơn. Bón 1kg phân chuồng và độn 1 kg lá rác/hố thì tỷ lệ sống là 98,3% và chỉ có 6,7% số cây bị khô ngọn (công thức 1); bón 0,5kg phân chuồng/hố thì tỷ lệ sống 93,8% và số cây bị khô ngọn là 23,1% (công thức 3); ở công thức không bón phân chuồng và không độn lá, rác thì tỷ lệ sống đạt 87,8% và có tới 33,3% số cây bị khô ngọn (công thức 5).
Sinh trưởng đường kính gốc, số cành/cây của Phi lao hạt có sự khác nhau đối với mức phân bón và lá độn. Sinh trưởng về chiều cao cây thì chưa có sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm. Tuy nhiên các chỉ tiêu sinh trưởng của Phi lao hạt đều đạt cao hơn ở công thức bón 1kg phân chuồng, độn 1kg lá rác và bón 100g NPK trong năm đầu (công thức 1).
Phi lao hom dòng 601 ở giai đoạn 1 năm tuổi đạt tỷ lệ sống 93,8-100%, cao hơn Phi lao hạt và bị khô ngọn 6,7-13,3%, ít hơn Phi lao hạt. Các giá trị đo đếm về sinh trưởng của Phi lao hom cho thấy có ảnh hưởng của lượng bón phân chuồng, độn rác và bón phân NPK theo chiều hướng như phi lao hạt (công thức 6, 7, 8) nhưng kết quả phân tích phương sai cho thấy chúng chưa có sự sai khác rõ rệt.
Như vậy, trong giai đoạn 1 năm tuổi Phi lao hom có các chỉ tiêu sinh trưởng không chênh lệch nhiều so với phi lao hạt nhưng tỷ lệ số cây bị khô ngọn ít hơn Phi lao hạt 0,4-1 lần. Điều này có thể do đặc tính chịu khô hạn của Phi lao hom cao hơn Phi lao hạt.
So với giai đoạn 1 năm tuổi thì rừng Phi lao hạt 2 năm tuổi có tỷ lệ sống sống giảm không đáng kể nhưng số cây bị khô ngọn lại tăng 2,4-5,5 lần.
b. Đối với các loài Keo chịu hạn
Tỷ lệ sống của 4 loài keo thử nghiệm ở giai đoạn 2 năm tuổi đạt trung bình từ 75,6 đến 100%. Các loài keo này không hề bị khô ngọn như đối với Phi lao.
Như vậy, ở giai đoạn 2 năm tuổi, trong 5 loài cây trồng thử nghiệm trên cát di động, chỉ có Phi lao bị khô ngọn nhiều và gia tăng so với giai đoạn 1 năm tuổi, các loài Keo không bị khô ngọn. A. torulosavà A. difficilisvượt hẳn về sức sinh trưởng và mức độ che chắn so với Phi lao, A. tumidavà A. crassicarpa. Cây trồng của cả 5 loài ở công thức bón 1kg phân chuồng, độn 1kg lá rác, bón 100g NPK có tỷ lệ sống cao hơn và sinh trưởng tốt hơn. 2.3. Rừng trồng 3 năm tuổi a. Đối với Phi lao:
Nguồn: dof.mard.gov.vn
|

Như vậy, trong giai đoạn 1 năm tuổi Phi lao hom có các chỉ tiêu sinh trưởng không chênh lệch nhiều so với phi lao hạt nhưng tỷ lệ số cây bị khô ngọn ít hơn Phi lao hạt 0,4-1 lần. Điều này có thể do đặc tính chịu khô hạn của Phi lao hom cao hơn Phi lao hạt.
Tỷ lệ sống của 4 loài keo thử nghiệm ở giai đoạn 2 năm tuổi đạt trung bình từ 75,6 đến 100%. Các loài keo này không hề bị khô ngọn như đối với Phi lao.
Như vậy, ở giai đoạn 2 năm tuổi, trong 5 loài cây trồng thử nghiệm trên cát di động, chỉ có Phi lao bị khô ngọn nhiều và gia tăng so với giai đoạn 1 năm tuổi, các loài Keo không bị khô ngọn. A. torulosavà A. difficilisvượt hẳn về sức sinh trưởng và mức độ che chắn so với Phi lao, A. tumidavà A. crassicarpa. Cây trồng của cả 5 loài ở công thức bón 1kg phân chuồng, độn 1kg lá rác, bón 100g NPK có tỷ lệ sống cao hơn và sinh trưởng tốt hơn. 






