Kế thừa và phát triển múa dân gian Tây Nguyên
Từ Tây Nguyên, tin chiến thắng bay về, ca khúc này được dựng thành múa tập thể. Động tác chủ đạo của điệu múa là “nhún đưa mông” khai thác từ múa “xoang” Gia - rai. Tác phẩm “Vui chiến thắng” (Lâm Tô Lộc: Vui chiến thắng” t/c Văn hoá Kon Tum số Xuân Quý Mùi, 2003, tr 65 - 68) được giải cao của Phân hội Văn nghệ Bình Định.
Năm 1957 theo yêu cầu của Ban nghiên cứu nhạc vũ TƯ, chúng tôi sưu tầm, nghiên cứu múa dân gian Tây Nguyên để xây dựng giáo trình múa dân tộc cho các lớp múa của Vụ Nghệ thuật thuộc Bộ Văn hoá. Năm 1958 chúng tôi hoàn chỉnh giáo trình Múa dân gian Gia - rai, Ba - na, Ê - đêcho lớp múa của chuyên gia Triều Tiên Chu Huệ Đức. Đây là lớp nâng cao trình độ nghệ thuật biểu diễn cho diễn viên múa chính tại các đoàn ca múa chuyên nghiệp trong và ngoài quân đội. Khi ấy, tôi được phân công dạy phần múa nam, còn nhà giáo Lê Anh Hợp dạy phần múa nữ. Giáo trình đó (do 2 chúng tôi biên soạn và trực tiếp giảng dạy) gồm 2 phần:
1. Lý luận về múa dân gian các dân tộc ở Tây Nguyên (Lâm Tô Lộc: Múa dân gian các dân tộc Việt Nam, Nxb VHDT, H, 1994, tr 131 - 146).
2.Hệ thống động tác cơ bản múa dân gian (Lâm Tô Lộc: Hệ thống Xoang Gia - rai, Ba - na. T/c Văn hoá Kon Tum.Số 25, 2 - 2006, tr 56 - 58). Phần lý luậnđược in trong cuốn Múa dân gian các dân tộc Việt Nam .Phần hệ thống động tác cơ bản được đăng trên T/c “Văn hoá Kon Tum”.
Cuối khoá, chúng tôi xây dựng tiết mục “Múa trống Ba - na” cho các học viên biểu diễn tốt nghiệp. Hai nghệ sĩ ưu tú Phó Anh Nghiêm và Như Bình múa vai chính. Điệu múa được sáng tác bằng chất liệu múa Xơ gơa và múa tung khắctrong di sản múa dân gian Ba - na. Tôi vừa sáng tác múa, vừa viết nhạc cho tiết mục này. Bản hoà tấu nhạc múa do lớp chỉ huy dàn nhạc của chuyên gia Triều Tiên Triệu Đạt Nguyên dàn dựng. Vào giữa những năm 1960 (của thế kỷ XX) chúng tôi sáng tác thơ múa “ Giữ buôn giữ rẫy” theo nhạc của cố nhạc sĩ Nhật Lai cho Đoàn Ca múa miền Nam . Tác phẩm nói lên mưu trí của một già làng và tinh thần chiến đấu anh dũng của nữ du kích Tây Nguyên. NSND Phi Long múa vai chính: già làng. Bằng bẫy đá, hầm chông và tên nỏ, họ đã chiến thắng toàn quân của Mỹ - Nguỵ đi càn quét buôn làng. Thơ múa được trình diễn ở nhiều nước trên thế giới và báo chí Lêningrát đã nói đến múa ấy khi Đoàn Ca múa miền Nam lưu diễn tại thành phố này.
Qua những sáng tác thể nghiệm của mình cũng như qua những tác phẩm giá trị của các biên đạo múa rông chiêng(của nhóm 3 tác giả), múa Cơ - tu (của cố biên đạo Thái Ly và Ngân Quý), chùm múa ít người “ Cô gái E - đê”, “ Cha và con”, “ Greng neng”, “ Trống Tây Nguyên” (của Y Brơm), múa Kong Kor(của Long Ta), múa “Lửa thiêng” (của Ngọc Cường), … vấn đề kế thừa và phát triển múa Tây Nguyên trong nửa cuối thế kỷ XX được đúc kết trong khảo luận “ Sự phát triển múa dân gian các dân tộc ở Tây Nguyên” đăng trên t/c “Văn hoá dân gian” (số 1 (49) - 1995).
Một số vấn đề về múa được xem xét ở góc độ lý luận và phương pháp để các biên đạo trẻ tham khảo trong quá trình kế tục sự nghiệp phát triển múa Tây Nguyên. Đó là các vấn đề:
1. Do thiếu cơ sở vật chất kỹ thuật, nhiều đợt sưu tầm múa Tây Nguyên không được quay phim nên đã mất rất nhiều tư liệu quý (Các nghệ nhân đã mang theo về nơi thiên cổ nhiều điệu múa giá trị). Ngày nay, nếu có điều kiện, nên quay phim những điệu múa Tây Nguyên (cổ và mới) để làm tư liệu nghiên cứu lịch sử cho các nhà dân tộc – vũ đạo học.
2. trong quá trình kế thừa và phát triển múa dân gian Tây Nguyên, đã hình thành 3 cấp độ của sự sáng tạo: chỉnh lý, cải biên, sáng tác mới:
- Những điệu múa cổ truyền có giá trị nghệ thuật (đã đi cùng năm tháng) có thể giữ nguyên trạng hoặc chỉnh lý để nâng cao chất lượng nghệ thuật;
- Những điệu múa cổ, xét về cơ bản đều tốt, nhưng còn đôi chỗ (về nội dung và hình thức nghệ thuật) chưa đạt, nên cải biên để những vũ điệu ấy được hoàn chỉnh về nội dung và hình thức nghệ thuật;
- Nếu trong di sản múa truyền thống chỉ còn lại những chất liệu quý tất nhiên phải có sự sáng tạo mới từ những chất liệu ấy. Đã có những thành công về sáng tác ở từng mặt:
+ Đó là sự phát triển những chất liệu nói trên để xây dựng ngôn ngữ múa mới theo yêu cầu của tác phẩm như múa “Những cô gái Pa – cô”, của cố biên đạo Ngọc Minh.
+ Sự sử dụng phương pháp cấu trúc múa của các dân tộc (có nền nghệ thuật múa tiên tiến) nhằm làm giàu các hình thức, thể loại múa trong các dân tộc ở Tây Nguyên, bổ sung phần thiếu hụt mà múa truyền thống không có như thủ pháp múa phức điệu được sử dụng (để diễn đạt nội dung) ở thơ múa “Giữ buôn giữ rẫy”.
+ Sự hình thành của phong cách tác giả là một bước phát triển của múa chuyên nghiệp từ múa dân gian. Bằng chất liệu múa Tây Nguyên. NSND Y Brơm đã có những chùm tác phẩm được giải thưởng nhà nước. Trong số các biên đạo Tây Nguyên nổi lên những tên tuổi như NSND Y Brơm, NSND Xuân La, NSƯT Long Ta.
Ở những nghệ sĩ người bản tộc này đã có sự trưởng thành về nghệ thuật biên đạo:
a. Họ biết chắt lọc tinh hoa múa Tây Nguyên. Tất nhiên tinh hoa này mang được thần thái của múa truyền thống. Đặc điểm dân tộc thể hiện ở ngôn ngữ múa, ở phương pháp kết cấu và phong cách biểu diễn của tác giả.
b. Họ nắm vững quan hệ giữa múa và âm nhạc, phục trang, đạo cụ, trang trí, thấy rõ tác động qua lại của các thành tố nghệ thuật ấy nên làm việc ăn ý với nhạc sĩ, hoạ sĩ thiết kế và diễn viên múa.
c. Họ nắm được nhu cầu thẩm mỹ của công chúng ngày nay nên một mặt góp phần giáo dục thẩm mỹ cho người xem qua điệu múa dân gian đã được sân khấu hoá theo đường lối văn nghệ của Đảng. Mặt khác họ tạo ra những giá trị múa mới có sức hấp dẫn công chúng (một công chúng tiên tiến có khả năng cảm thụ những giá trị đích thực).
Qua sự sáng tạo thể nghiệm của bản thân và của các biên đạo đồng nghiệp, trong quá trình kế thừa và phát triển múa dân gian Tây Nguyên, chúng tôi nghiệm thấy có đi đúng đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng, mới có thể góp phần xây dựng nên nền nghệ thuật múa mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Nguồn: Dân tộc & Thời đại, số 117, tr 5







