Hướng về một tương lai văn hoá thăng hoa
Hướng tới lễ kỷ niệm 1.000 năm tuổi, Hà Nội sẽ có một tương lai văn hoá thăng hoa.
Trước đây, Hà Nội và Hà Tây (cũ) vốn đã có những giao thoa văn hoá mạnh mẽ. Nhiều làng nghề ở Hà Nội bây giờ có nguồn gốc từ Hà Tây như người Nhị Khê tạo nên phố Hàng Tiện; người làng Chuôn tạo nên phố Hàng Khay; người Hà Vĩ, Bình Vọng tạo nên phố Hàng Hòm; người Quất Động, Hướng Dương tạo nên phố Hàng Thêu...
Rất nhiều danh nhân, văn sĩ nổi tiếng của mảnh đất kinh kỳ có xuất phát điểm từ vùng đất xứ Đoài mây trắng như Nguyễn Trãi, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Nhược Pháp... Chính tại mảnh đất văn vật này, tài năng, công sức của họ đã được đánh giá và tôn vinh một cách xứng đáng.
Đất Thăng Long là đất hội tụ tinh hoa từ tứ xứ. Không phải ai đến đây cũng có thể trụ lại. Phải là những người có tài, nghề tinh mới phát triển được tại vùng đất Kẻ Chợ. Người thợ Hà Tây lên đất kinh kỳ để nâng cao và phát triển nghề nghiệp, nhưng mặt khác họ cũng quay về bồi đắp cho nghề quê.
Cho đến hôm nay, sự giao hoà văn hoá từ lâu đời đó vẫn tồn tại. Hà Nội mở rộng đồng nghĩa với việc thủ đô có tiềm lực vượt trội về các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể: Sự tập trung và cộng hưởng của hàng ngàn di sản văn hoá vật thể và phi vật thể (trong đó nhiều di sản có lịch sử hàng trăm, hàng ngàn năm và được xếp hạng quốc gia) của các địa phương thuộc Hà Nội mở rộng sẽ tạo nên sự thăng hoa rực rỡ hơn, vượt trội hơn.
Đó sẽ là bức tranh văn hoá đa sắc, hoành tráng và vô giá, không chỉ góp phần khẳng định vị thế trung tâm văn hoá, mà còn tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển nhanh hơn, toàn diện và hiệu quả hơn của của vùng đất Thăng Long- Hà Nội ngàn năm văn hiến.
Tuy nhiên, cùng với sự thăng hoa văn hoá đó, còn là những thách thức không nhỏ trong công tác quản lý văn hoá.
Nhiều người lo ngại bản sắc văn hoá kinh kỳ sẽ phôi phai, "hồn vía" tiếng nói Hà thành sẽ bị lai tạp... Bởi văn hoá Hà Nội là sự hội tụ và kết tinh hồn thiêng dân tộc, với những di tích văn hoá - lịch sử, với tiếng nói chuẩn xác và thông dụng mà bất cứ vùng miền nào cũng nghe được, hiểu được và giao lưu được.
Điều này đặt các nhà quản lý văn hoá của thủ đô trước những khó khăn, yêu cầu họ phải có cái tầm nhìn xa trông rộng với một nền tảng kiến thức vững vàng. Không thể áp đặt văn hoá một cách cứng nhắc cho mọi vùng miền, mà cần có sự nghiên cứu và dung hoà một cách uyển chuyển, thích hợp. Có như vậy, bản sắc văn hoá riêng của mỗi địa phương vừa không bị mất đi mà bức tranh văn hoá thủ đô mới càng trở nên đa dạng, hấp dẫn và nổi bật.








