Hồ Chí Minh và hiền tài ngoài Đảng
“Tôi xin nghe các vị”
Hồi ký của ông Phan Anh ghi lại, sau buổi lễ tuyên ngôn độc lập mấy ngày, Bắc Bộ Phủ tổ chức một cuộc gặp mặt nhân sĩ, các giới trí thức. “Tôi nghĩ chắc đến để nghe những lời chỉ bảo của Bác. Nhưng khi mọi người đã ổn định chỗ ngồi thì Bác lại nói: “Tôi xin được nghe ý kiến của các vị...””.
Thể theo ý kiến của trí thức, nhân sĩ, cuối tháng 12-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến thiết. Ban đầu ủy ban gồm 40 người, sau mở rộng hơn, tập hợp nhiều người có uy tín. Tham gia ủy ban có nhiều thành viên Chính phủ lâm thời như ông Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp. Nhưng đứng vị trí chủ tịch lại là ông Phan Anh - nguyên là bộ trưởng chính phủ Trần Trọng Kim thời phát xít Nhật chiếm đóng.
Ra đời trong lúc Chính phủ lâm thời đã hoàn tất dự án Hiến pháp, công bố cho toàn dân tham gia góp ý, song ủy ban với đại bộ phận đứng ngoài Đảng Cộng sản đã tập hợp được trí tuệ của nhân sĩ, trí thức thời đó đưa ra một dự án Hiến pháp khác trình Chính phủ. Theo Lịch sử Chính phủ Việt Nam 1945-1955 (NXB Chính trị quốc gia 2006), hai dự án đã được đối chiếu nhau. Dựa vào đó, đầu năm 1946, Tiểu ban Hiến pháp của Quốc hội đã soạn dự án mới trình Quốc hội thông qua.
Một lòng theo Cụ Hồ
GS Lưu Văn Đạt, ủy viên Đoàn chủ tịch MTTQ Việt Nam , là nhân chứng lịch sử hiếm hoi còn sống đến ngày nay. Khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, ông Đạt 25 tuổi, tốt nghiệp luật khoa Đại học Đông Dương và có hai bằng cao học. Tháng 3-1946, ông Đạt tham gia Bộ Quốc dân kinh tế và làm ủy viên Ủy ban Kiến thiết. “Uy tín của Hồ Chí Minh lớn lắm nên hầu hết trí thức Hà Nội đều hướng về Cụ, hưởng ứng và ủng hộ Chính phủ kháng chiến. Bộ máy chính quyền từ xã lên trung ương, đâu đâu cũng thấy thanh niên, trí thức, nhà nho - cách mạng tham gia và hầu như tất cả là người ngoài Đảng” - ông Đạt hồi tưởng. Ông nhận xét, Ủy ban Kiến thiết là sáng kiến đặc sắc Hồ Chí Minh, thu nạp rất nhiều hiền sĩ.
Sau khi phát xít Nhật bại trận, xuất hiện nhiều đảng phái với quan điểm chính trị, phương pháp luận khác nhau tìm mọi cách chia sẻ quyền lực, trong lúc quân Tưởng, Anh, Pháp đang nhăm nhe nước ta. Trước tình hình đó, dưới sự lãnh đạo uyển chuyển của Hồ Chí Minh, Việt Minh và Việt Quốc, Việt Cách đã thương lượng, thống nhất lập trường coi độc lập và đoàn kết là trên hết, ủng hộ tổng tuyển cử.
Ngày 1-1-1946, Chính phủ lâm thời 15 thành viên - hội đủ cả Đảng Cộng sản, Đảng Dân chủ, nhân sĩ, trí thức không đảng phái - được mở rộng thành Chính phủ liên hiệp với nhiều ghế cho hai đảng đối lập. Quốc hội lập hiến được bầu với 57% đại biểu thuộc các đảng phái khác nhau, 43% không đảng phái.
Nhằm thực hiện sự đoàn kết toàn dân, hạn chế chia rẽ giữa các lực lượng, tại kỳ họp đầu tiên Quốc hội lập hiến ngày 2-3-1946, 333 đại biểu dân bầu đã chuẩn y đề nghị của Hồ Chủ tịch, tăng thêm 70 ghế cho các đại biểu Việt Quốc, Việt Cách không qua bầu cử. Kỳ họp thông qua Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; bầu Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, ông Nguyễn Hải Thần của Việt Cách làm Phó Chủ tịch. Kỳ họp giao ông Hồ Chí Minh và ông Nguyễn Hải Thần thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến gồm 12 thành viên là nhân sĩ, trí thức lớn và lập cố vấn đoàn do ông Vĩnh Thụy (cựu hoàng Bảo Đại) đảm nhận.
Hồi ký của ông Phan Anh ghi: “Báo chí Pháp lúc bấy giờ phải thú nhận: Tinh hoa của giới trí thức Việt Namđều đi theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, làm cho Pháp khó có thể thành lập được bộ máy Việt Nam cộng tác với Pháp có uy tín”. Thực tế là vậy. Cả những vị trước đó chưa hẳn cảm tình đặc biệt với Đảng Cộng sản như Khâm sai đại thần Phan Kế Toại, Thượng thư bộ hình Bùi Bằng Đoàn cũng lặn lội lên chiến khu Việt Bắc, sát cánh tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ.
Trọng dụng hiền tài
Năm 1947, Hồ Chủ tịch thay mặt Chính phủ mời một số trí thức, nhân sĩ ra giữ trọng trách trong bộ máy. Luật sư Phan Anh giữ chức Bộ trưởng Kinh tế, ông Hoàng Minh Giám - ủy viên trung ương Đảng Xã hội giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao, nhà khoa học Tạ Quang Bửu - Bộ trưởng Quốc phòng, ông Đặng Văn Hướng - Thượng thư triều đình Huế làm Bộ trưởng không bộ, bác sĩ Vũ Đình Tụng theo Công giáo làm Bộ trưởng Thương binh cựu binh, ông Phan Kế Toại - nguyên Khâm sai chính phủ Trần Trọng Kim làm Bộ trưởng Nội vụ. Sau đó, ba vị Phan Kế Toại, Phan Anh, Tạ Quang Bửu còn tham gia Hội đồng Quốc phòng tối cao sáu thành viên.
Ngoài ra, kỹ sư Ngô Tấn Nhơn - trí thức miền Nam được cử làm Bộ trưởng Canh nông, luật sư-nhà dân tộc học Nguyễn Văn Huyên làm Bộ trưởng Giáo dục, luật gia sáng lập viên Đảng Dân chủ Vũ Đình Hòe làm Bộ trưởng Tư pháp, Phó Tổng Thư ký Đảng Dân chủ Trần Đăng Khoa làm Bộ trưởng Giao thông... Các bộ trưởng - đại trí thức đã tạo nên “xương sống” của Chính phủ chèo lái con thuyền kháng chiến.
Kháng chiến thắng lợi, hòa bình lập lại ở miền Bắc, ngày 20-9-1955, tại kỳ họp thứ V, theo đề nghị của Hồ Chủ tịch, Quốc hội khóa I thông qua quyết định kiện toàn Chính phủ, gồm 17 bộ, 19 thành viên. Tất cả bộ trưởng - đại trí thức của nhiệm kỳ trước tiếp tục giữ trọng trách, bổ sung thêm bác sĩ Hoàng Tích Trí, nhà khoa học-Phó Tổng Thư ký Đảng Xã hội Nguyễn Xiển, kỹ sư canh nông-ủy viên trung ương Đảng Dân chủ Nghiêm Xuân Yêm... Tổng cộng có 10 ghế bộ trưởng giao cho nhân sĩ, trí thức trong Chính phủ từ năm 1955 đến 1960. Đây là thời kỳ có nhiều trí thức ngoài Đảng Cộng sản tham gia Chính phủ nhất.








