HIV/ AIDS vẫn là hiểm họa giấu mặt
Hiện nay, có hơn 25 dược phẩm kháng retrovirus (ARV) được sử dụng, một số dược phẩm được dùng riêng lẻ, một số khác được phối hợp. Chúng ức chế sự sinh sản của HIV và làm giảm số lượng virus trong máu.
Các thuốc ARV phối hợp có hoạt tính cao, kéo dài được tuổi thọ của bệnh nhân, cũng như cải thiện cuộc sống của họ.
Cho tới nay, chưa có thuốc chữa lành bệnh AIDS. Khi bệnh nhân ngưng dùng thuốc, HIV trong máu tăng trở lại.
Từ 10 năm qua, các nhà sinh học nghiên cứu tìm hiểu tại sao HIV có thể sống, tồn tại được trước các loại thuốc ARV.
HIV muốn phát triển, cần xâm nhập một tế bào. Virus sử dụng bộ máy của tế bào bị nhiễm (lympho bào, đại thực bào) để sinh sản. Men phiên mã xúc tác sự biến đổi của RNA thành DNA. Sau dó, DNA của virus được gắn vào DNA bộ gen của tế bào chủ và cùng sao chép với bộ gen này trong mỗi thế hệ, đảm bảo sự tồn tại của virus.
Thông thường, ở các bệnh nhiễm khác, hệ miễn dịch loại trừ virus gây bệnh là do các đoạn protein virus (kháng nguyên) hiện diện ở bề mặt tế bào bị nhiễm. Nhưng ở bệnh nhân nhiễm HIV, hệ miễn dịch bị HIV tấn công. Ban đầu, cơ thể còn có khả năng chống trả, nhưng nếu không có thuốc điều trị, HIV phát triển ồ ạt, vì hệ miễn dịch đã bị suy giảm.
Các dược phẩm ARV ức chế sự phát triển của HIV và hạn chế sự lan tỏa HIV sang các tế bào khác, che chở các tế bào miễn dịch.
Tại sao thuốc ARV không loại trừ hẳn HIV?
- HIV thường nhiễm các tế bào miễn dịch, loại lympho bào phụ trợ, thường khu trú trong các hạch bạch huyết và các mô liên kết của hệ dạ dày – ruột. Các lympho bào phụ trợ cũng có mặt trong tuần hoàn máu.
- HIV dạng tiềm ẩn:ở bệnh nhân nhiễm HIV, các lympho bào T có khả năng nhớ, nhận dạng tế bào bị nhiễm. Khi các lympho bào bị nhiễm phân chia, đồng thời chúng cũng sản xuất nhiều virion (hạt virus mới).
Một số lớn lympho bào T nhận dạng bị tấn công và bị tiêu hủy. Nhưng một số khác trở lại dạng tiềm ẩn. Lúc đó, HIV trong tế bào tồn tại dưới dạng DNA virus nằm trong bộ gen của tế bào. Do DNA virus không được phiên mã và protein virus không được hình thành, không có kháng nguyên virus ở mặt ngoài của tế bào. Vì vậy, dược phẩm ARV không có tác động và hệ miễn dịch không thể nhận dạng các tế bào bị nhiễm HIV tiềm ẩn.
Năm 1997, ba nhóm nghiên cứu Mỹ thuộc Viện Đại học California đã xác định ở bệnh nhân nhiễm HIV/ AIDS được điều trị bằng dược phẩm ARV, một số HIV vẫn tồn tại không bị ARV tấn công, do chúng ẩn núp trong một số lympho bào T bất hoạt. Tuy nhiên, nếu kích hoạt các lympho bào T này, virus tiềm ẩn phát triển trở lại.
![]() |
Năm 2007, các nghiên cứu cũng chứng minh các lympho bào T phụ trợ ở ruột bị nhiễm và bị tiêu hủy, khi bệnh nhân mới bị nhiễm HIV trước khi HIV được phát hiện trong máu. Khi bệnh nhân sử dụng dược phẩm ARV, HIV tiếp tục phát triển trong mô ruột.
Ở các đại thực bào nhiễm HIV, các hoạt virus đi vào các không bào. Dược phẩm không dễ dàng tác động đến HIV trong không bào.
Những vùng ẩn núp trong cơ thể
Các thuốc ARV phối hợp áp dụng dài hạn cho bệnh nhân cũng không thể loại trừ hoàn toàn HIV, vì HIV còn chiếm nhiều vị trí khác trong cơ thể.
Hệ thần kinh trung ương rất nhạy cảm với HIV. Các đại thực bào nhiễm HIV ở các bộ phận khác của cơ thể có khả năng xuyên qua hàng rào máu não và tồn tại ở não bộ. Một khi xâm nhập vào đây, HIV không bị tác động của dược phẩm ARV vì thuốc này không thể xuyên qua hàng rào máu não.
Thành của hệ dạ dày – ruột và hệ sinh dục
Các dược phẩm ARV không đến được thành của hệ dạ dày – ruột cũng như thành của hệ sinh dục. Ở những bệnh nhân nhiễm HIV/ AIDS được điều trị bằng RNA của HIV, cả những bệnh nhân không còn tìm thấy HIV trong máu.
Hướng loại trừ HIV tiềm ẩn
Để loại trừ HIV tiềm ẩn, các nhà sinh học cần xác định được các nơi ẩn nấp của HIV và nghiên cứu tìm ra phương thức trục xuất chúng. Để loại trừ hẳn HIV, cần loại trừ tất cả các lympho bào T bị nhiễm tiềm ẩn.
Một trong các hướng giải quyết:sử dụng các hợp chất kích hoạt các lympho bào T đang ở trạng thái “nghỉ”, tạo điều kiện cho chúng hoạt động trở lại để các dược phẩm ARV có thể tác động, tiêu hủy chúng.
Các nhà sinh học biến đổi tổ chức của chất nhiễm sắctrong các lympho bào T bị nhiễm tiềm ẩn, nhằm kích thích chúng sản sinh protein virus vừa đủ để protein có mặt màng ngoài tế bào. Như vậy, mới tác động và loại trừ được lympho bào nhiễm tiềm ẩn.
Cần ức chế sự sinh sản của HIV: dược phẩm sử dụng có thể là các dược phẩm ARV hiện nay tấn công các men của HIV: men phiên mã ngược và men proteaz. Các phương thức điều trị chuẩn hiện nay có khả năng giảm số lượng HIV trong máu. Cần thiết phối hợp thêm một dược phẩm mới kháng proteaz: raltegravir để giảm nhanh số lượng HIV.
Năm 2007, một dược phẩm mới CD4 – HS đã đuợc tìm ra, có khả năng ức chế sự xâm nhập HIV vào tế bào.
CD4 – HS là sự phối hợp của một phân tử giả CD4 cới heparan sulfat.









