Hiệu quả quá trình phát triển đối với môi trường sinh thái nông thôn
Việt Nam được công nhận là nước có tính đa dạng sinh học cao và hệ sinh thái phong phú. Theo thống kê, cả nước có 13.973 loài thực vật; hơn 21.000 loài động vật phân bổ khắp các vùng miền. Sự phong phú loài trong tự nhiên đã tạo điều kiện cho nền nông nghiệp Việt Nam ngày càng phát triển; thiên nhiên hài hòa và yên bình. Chính nguồn tài nguyên đa dạng này đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam, góp phần xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an ninh lương thực; là ngân hàng gen tự nhiên vô cùng quý giá. Sự phong phú về tài nguyên rừng, sông nước, khoáng sản, đất đai, biển cả… là niềm tự hào, đồng thời là một bảo đảm chho dân tộc phát triển.
Bất kỳ đâu trên thế giới, tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên đa dạng sinh học, sinh thái đều là hữu hạn, nếu khai thác không có kế hoạch sẽ cạn kiệt, thậm chí tuyệt chủng. Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đạt được nhiều thành tựu kinh tế quan trọng, nhưng vấn đề môi trường, trong đó có môi trường sinh thái nông thôn đang thực sự trở thành vấn đề nóng bỏng của đời sống xã hội nước ta hiện nay. Các quốc gia phát triển đã có những bài học kinh nghiệm vô cùng nghiệt ngã, khi quá đề cao lợi ích kinh tế mà coi nhẹ hoặc lãng quên việc chăm lo bảo vệ môi trường, giữ gìn cân bằng môi trường sinh thái.
Phát triển kinh tế - xã hội là đòi hỏi tất yếu. Môi trường sinh thái khu vực nông thôn nước ta đang bị ảnh hưởng của chính quá trình phát triển. Những dẫn chứng sau đây sẽ làm rõ hơn điều này. Trước tiên, mức độ gia tăng dân số ở nông thôn quá nhanh, trong khi quỹ đất ngày càng bị thu hẹp do đô thị hóa, công nghệ hóa. Năm 1976, khoảng 39 triệu người sống trong khu vực nông thôn, sau 20 năm tăng lên 60 triệu, nhiều vùng nông thôn quá sức chịu tải về mật độ dân số.
Các lĩnh vực kinh tế trọng yếu của nông nghiệp, nông thôn đều đang đối mặt những vấn đề liên quan đến môi trường sinh thái. Hiện nay, nước ta đang tích cực khôi phục, phát triển làng nghề với khoảng 1.500 làng nghề truyền thống tập trung chủ yếu tại khu vực nông thôn, phát triển tự phát, quy mô sản xuất nhỏ, phân tán xen kẽ trong khu dân cư và hầu như không có công nghệ thiết bị thu gom, phân loại xử lý rác. Khi quy mô sản xuất tăng lên, đòi hỏi đầu tư về thiết bị, nguyên vật liệu, hóa chất nhiều hơn…, đồng nghĩa với việc gia tăng mức độ ô nhiễm môi trường. 100% làng nghề đã xuất hiện đầy đủ các dạng ô nhiễm môi trường: Vật lý, hóa học, sinh học. Ngoài kinh tế làng nghề, hiện nay nông thôn đang được CNH, HĐH mạnh mẽ. Phần lớn các khu công nghiệp, khu chế xuất, liên doanh đặt tại nông thôn đều ít quan tâm đầu tư công nghệ xử lý môi trường, hoặc nếu có cũng chỉ là đối phó, hoạt động không thực sự hiệu quả. Mặt khác, nông thôn còn phải chịu đựng nước thải, rác thải của khu vực đô thị và sản xuất nông nghiệp.
Tổng kết qua các trận lũ lụt, mưa bão, nguyên nhân là do nông thôn đã bị phá vỡ tính tự nhiên vốn có khi các dòng sông, kênh mương dần bị thu hẹp, khả năng thoát lũ kém, ruộng ngày càng trũng do khai thác đất. Người ta ví, nó giống như chảo nước, quả không sai!
Việc lạm dụng và sử dụng không hợp lý các loại hóa chất trong sản xuất nông nghiệp cũng là nguyên nhân cơ bản. TS. Nguyễn Ngọc Sinh, Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam cho biết: những năm 1960 chỉ có khoảng 0,48% diện tích đất canh tác sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, hiện nay là 100% với trên 1.000 chủng loại thuốc, nhiều loại thuốc có tính độc cao, đã bị cấm sử dụng. Hàng năm, nước ta sử dụng trung bình 15.000 - 25.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật. Theo Báo cáo của Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, mỗi năm hoạt động nông nghiệp phát sinh khoảng 9.000 tấn chất thải nông nghiệp nguy hại; chủ yếu là thuốc bảo vệ thực vật. Sử dụng không hợp lý, không tuân thủ theo đúng những quy định nghiêm ngặt về quy trình sử dụng nên thuốc bảo vệ thực vật gây nhiều tác hại cho chính người sử dụng thuốc, người tiêu dùng nông sản thực phẩm và môi trường đất, nước, nguồn thủy hải sản.
Phương thức chăn nuôi gia súc, gia cầm ở nông thôn mang tính truyền thống, thiếu khoa học và vệ sinh môi trường. Hiện tại, nông thôn nước ta số hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm phổ biến, phát triển mạnh về quy mô (trên 90% số hộ gia đình). Phương thức chăn nuôi chủ yếu là thả rông, chuồng trại dưới nhà sàn, gần nơi ở, phân thải tích chứa lâu không được xử lý, làm môi trường sinh thái nông thôn thêm ô nhiễm.
Nước sinh hoạt, điều kiện vệ sinh môi trường nông thôn vẫn chưa được cải thiện đáng kể, tỷ lệ số hộ gia đình có hố xí hợp vệ sinh chỉ đạt 28% - 30%. Một số nơi ở miền Bắc, miền Trung còn tập quán sử dụng phân tươi (không ủ) để bón các loại cây trồng. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long còn nhiều hộ sử dụng hố xí trên kênh rạch. Hiện cả nước có khoảng trên 60% số hộ ở nông thôn được sử dụng nước sạch.
Hiện nay, vấn đề đáng báo động tại vùng nông thôn là tình trạng chất thải sinh hoạt. Cuộc sống được cải thiện, đi liền với nhu cầu xả rác không ngừng tăng, trong khi đó, ý thức vệ sinh công cộng của bộ phận người dân chưa thực sự tốt, cơ sở hạ tầng yếu kém, dịch vụ môi trường chưa phát triển, nên khả năng xử lý, kiểm soát ô nhiễm môi trường hạn chế. Mô hình xử lý rác thải tại nguồn chưa được áp dụng và phát triển mạnh. Hầu như rác thải của nông thôn đều xả thẳng ra môi trường tự nhiên, chưa được phân loại, xử lý.
Tài nguyên rừng là lá phổi xanh của con người, đảm bảo khả năng ngăn lũ, nhưng nó đang ngày càng cạn kiệt do buông lỏng quản lý, khai thác không kế hoạch và phục hồi chậm. Lũ lụt, lũ quét, hạn hán ngày càng gia tăng mức độ, cường độ, biến đổi bất thường, gây thiệt hại vô cùng lớn về tài sản, con người. Ước tính mỗi năm nước ta thiệt hại hàng chục nghìn tỷ đồng do thiên tai gây ra.
Ngoài các nguyên nhân trên làm cho môi trường sinh thái nông thôn ô nhiễm thì nguyên nhân trọng tâm nhất là nhận thức, ý thức về bảo vệ môi trường của người dân sinh sống ở nông thôn chưa cao. Người dân nông thôn vốn còn phải quan tâm nhiều hơn đến cuộc sống mưu sinh. Khi đời sống chưa thực sự đảm bảo thì việc bảo vệ môi trường là thứ yếu. Ngược lại, nhu cầu khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên của con người ngày càng lớn. Thiếu tư duy và ý thức tôn trọng các quy luật tự nhiên, tính xã hội truyền thống của con người đối với hệ sinh thái. Mở một con đường không tính đến việc phá vỡ quy luật dòng chảy tự nhiên của con suối; thậm chí san lấp hoàn toàn dòng chảy; mở khu công nghiệp làm phá vỡ hệ sinh thái truyền thống của khu vực đó, gây ô nhiễm môi trường, xảy ra các xung đột giữa người dân địa phương với doanh nghiệp; việc khai thác rừng sẽ giảm mất điều hòa cân bằng tự nhiên, giảm đi khả năng ngăn lũ; lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật làm cho đất và nước mất đi đặc tính tự nhiên ban đầu. Đôi khi vì lợi ích kinh tế trước mắt, người ta cố tình thay đổi di tính truyền thống của lợi ích sinh thái. Hệ quả là, thời gian qua, lũ lụt, hạn hán gia tăng, biến đổi khí hậu cận kề, môi trường và sức khỏe con người luôn bị đe dọa…
Vì vậy, bảo vệ môi trường sinh thái nông thôn bền vững là chiến lược quan trọng của đất nước. Trước tiên, cần phải tuyên truyền, giáo dục người nông dân hiểu biết hơn về các vấn đề môi trường. Môi trường là sự sống còn của chính mình, của đất nước, của các thế hệ con cháu mai sau. Phát huy văn hóa, tri thức bản địa để xây dựng mô hình gia đình, làng xã phát triển bền vững. Mỗi người dân, mỗi làng xã cần nêu cao ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ cùng quản lý, bảo vệ, làm giàu thêm tài nguyên môi trường. Điều quan trọng cốt yếu nhất là nâng cao trình độ dân trí, nhận thức đầy đủ về hài hòa lợi ích kinh tế gắn với bảo vệ môi trường sống. Hai là, sản xuất hàng hóa phải gắn với bảo vệ môi trường sinh thái. Trong quá trình sản xuất, chế biến, tiêu thụ… đều phải tôn trọng môi trường sinh thái bền vững. Có nghĩa là, khai thác các nguồn tài nguyên phải có biện pháp hạn chế mức độ ảnh hưởng xấu đến môi trường, có giải pháp khôi phục làm giàu tài nguyên môi trường, hàng hóa phải hướng đến thân thiện với môi trường. Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội các vùng miền, địa phương phải xét đến lợi nhuận sản xuất kinh doanh với lợi ích môi trường sinh thái và tôn trọng các quy luật tự nhiên của hệ sinh thái. Ba là, tăng cường tính pháp luật, kỷ cương nhà nước về quản lý, bảo vệ, cải thiện môi trường; cá nhân, tổ chức phá hoại môi trường sinh thái phải được xử lý nghiêm minh theo pháp luật. Bốn là, ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, nuôi trồng gắn với thân thiện môi trường. Nhà nước đầu tư nguồn lực tài chính, quy hoạch, khắc phục, bảo vệ môi trường sinh thái nông thôn trong từng giai đoạn, khu vực.
Đặc biệt, căn cứ vào đặc thù địa lý, tập tục văn hóa vùng miền để xây dựng mô hình thực tiễn. Nhiều năm qua, các địa phương xuất hiện nhiều cách làm mới, nhân tố mới điển hình trong công tác bảo vệ môi trường sinh thái hiệu quả, bền vững, được cộng đồng đánh giá cao. Hơn 10 năm trước đây, tại xã Thụy Sơn, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình trước thực trạng môi trường bị ô nhiễm, các xóm, đội đã phát động phong trào "ngày thứ 7 vì môi trường" huy động đông đảo người dân tham gia vệ sinh ngõ xóm, vận động cam kết vứt rác đúng nơi quy định, đúng giờ. Đến nay, phong trào được duy trì, nhân rộng khắp các vùng miền cả nước. Lần đầu tiên vào năm 1990, nhiều bản làng thuộc huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, đồng bào dân tộc đã xây dựng quy ước, hương ước riêng về bảo vệ môi trường sinh thái, nhất là tài nguyên rừng. Việc xây dựng quy ước, hương ước được phần lớn người dân tham gia, ủng hộ và thực hiện với các quy định cụ thể như: khi phát hiện cá nhân, tổ chức gây ô nhiễm môi trường phải có trách nhiệm báo chính quyền địa phương; chăn nuôi gia súc, gia cầm phải có chuồng trại kiên cố, cách xa nơi ở, không đốt, chặt phá rừng; không săn bắt thú vật; không xả rác vào sông suối… Thực hiện tốt quy ước, hương ước sẽ là căn cứ để bình xét tiêu chuẩn Gia đình văn hóa, Bản làng văn hóa. Một số tỉnh miền núi như Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Yên Bái, Quảng Trị… đã phát động và duy trì thường xuyên phong trào "sạch làng, tốt ruộng, đẹp quê hương", "ăn sạch, uống sạch, ở sạch". Mô hình Làng sinh thái ở các tỉnh đồng bằng Đông Nam Bộ… Nhìn chung, người nông dân nước ta đã từng bước nhận thức được vai trò quan trọng và cần thiết của yếu tố môi trường sinh thái đối với sức khỏe cuộc sống…
Tuy nhiên, các mô hình, phong trào này chưa được phát triển sâu rộng, có sức sống lớn mạnh ở nông thôn, nơi mạnh, nơi yếu, lúc mạnh, lúc yếu. Phong trào bảo vệ môi trường chủ yếu xuất phát từ chính nhu cầu bức xúc cần bảo vệ môi trường của nhiều địa phương, của chính mỗi gia đình và người dân. Ý thức chấp hành pháp luật về môi trường của đại bộ phận người dân chưa cao nên còn gây tác hại không tốt cho môi trường. Để góp phần phát triển môi trường sinh thái nông thôn bền vững, cần khắc phục tốt những vấn đề đó, đặc biệt nên thực hiện nguyên tắc "Dân biết, dân làm, dân kiểm tra" trong các chương trình, hoạt động có liên quan đến vấn đề môi trường, nông dân phải là trung tâm, nòng cốt trong các quan hệ môi trường. Giải quyết hài hòa các vấn đề trên sẽ góp phần bảo vệ môi trường sinh thái nông thôn bền vững.








