Hiệp đinh Paris thắng lợi và ý nghĩa
Ngày 25 - 1 - 1969 khai mạc phiên họp đầu tiên của hội nghị bốn bên (Đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được xếp ngang hàng với các đoàn khác).
Tháng 1 - 1969, Ních - xơn chính thức nhận chức tổng thống Mỹ và đưa ra chính sách “Việt Nam hoá chiến tranh”. Từ đó Mỹ ra sức tăng cường quân nguỵ về số quân, về trang bị vũ khí, kỹ thuật, về huấn luyện, về mở các chiến dịch “Phương Hoàng” đánh phá cơ sở, giết hại cán bộ của ta ở miền Nam, ra sức ném bom ồ ạt đường tiếp tế vào miền Nam, ném bom trở lại miền Bắc, cho quân Mỹ nguỵ xâm lược Campuchia, dùng Lon - Non lật đổ Xihanuc (1970), mở chiến dịch đường 9 Nam Lào hòng cắt đường mòn Hồ Chí Minh (1971), tổ chức bầu cử tổng thống nguỵ ở miền Nam để tô vẽ lại bộ mặt của Nguyễn Văn Thiệu.
Trên bàn hội nghị, Mỹ cố tình làm gián đoạn các cuộc họp công khai hàng tuần, Tháng 8 - 1969, Kit - xinh - giơ tiếp xúc với đồng chí Xuân Thuỷ với mục đích thăm dò ta. Đến năm 1970, đồng chí Lê Đức Thọ lần đầu tiên gặp riêng Kit-sinh-giơ.
Từ năm 1969 - 1971, Mỹ chủ trương đàm phán trên thế mạnh, từ chối không thay đổi Thiệu - Kỳ, tách vấn đề quân sự với vấn đề chính trị, chỉ muốn giải quyết vấn đề quân sự có lợi cho Mỹ, duy trì được nguỵ quân, nguỵ quyền, để rút quân Mỹ và lấy được tù binh Mỹ về nước.
Ta đã nhiều lần tấn công ngoại giao ở diễn đàn công khai cũng như trong những lần gặp riêng. Ta vẫn giữ vững nguyên tắc dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, rút hết quân Mỹ về nước, lập chính quyền liên hiệp ba thành phần ở miền Nam, đồng thời có sách lược khôn khéo về thời hạn rút quân, thời hạn trả tù binh, về hình thức chính quyền ở miền Nam. Song cho đến năm 1971, Mỹ vẫn không chịu giải quyết mà muốn tiếp tục leo thang chiến tranh.
Xuân hè 1972, quân và dân ta trên đà đánh thắng kế hoạch “Việt Nam hoá” chiến tranh của Mỹ, đã mở chiến dịch lớn tấn công trên mấy hướng Đông Hà, Quảng Trị, Đắc Tô, Tân Cảnh, An Lộ, Khu 5... và đã giành được những thắng lợi to lớn.
Tháng 8 - 1972, Mỹ đề nghị gặp riêng, các vấn đề thực chất được đặt ra rõ hơn.
Ngày 8 - 10 - 1972, trong cuộc gặp giữa đồng chí Lê Đức Thọ và Kit-xinh-giơ, phía ta đã đưa ra dự thảo Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam . Chúng ta đã có đề nghị rất hợp tình hợp lý, sát với tình hình chiến trường, đã đẩy Mỹ vào thế khó từ chối phải đi vào giải quyết vấn đề. Ta nhằm đúng vấn đề trọng tâm, giải quyết được vấn đề quân sự có lợi nhất cho ta. Mỹ phải rút hết quân ra khỏi miền Nam trong khi lực lượng của ta ở đó vẫn nguyên vẹn. Ta trả tù binh Mỹ, Mỹ - nguỵ phải thả người của ta bị chúng bắt giam. Giải quyết vấn đề chính trị trên cơ sở giữ vững những nguyên tắc cơ bản, đồng thời có mềm dẻo trong việc lập Hội đồng hoà hợp dân tộc ba thành phần để tổ chức tổng tuyển cử và thực hiện tự do dân chủ...
Ngày 20 - 10 - 1972, văn bản dự thảo Hiệp định đã được thoả thuận, nhưng ngay sau đó ngày 22 - 10 - 1972, phía Mỹ đã lật lọng, viện lý do Nguyễn Văn Thiệu gây khó khăn, Mỹ đòi sửa lại văn bản, đưa ra nhiều điểm kéo dài việc hoàn tất dự thảo.
Ngày 26 - 10 - 1972, Chính phủ ta công bố dự thảo văn bản đạt được ngày 20 - 10 - 1972 và tố cáo phía Mỹ đã lật lọng.
Tháng 11 - 1982, hai bên tiếp tục gặp lại, ta lên án mạnh mẽ thái độ của Mỹ đòi sửa đổi nhiều điểm thoả thuận, Mỹ đuối lý nhưng vẫn ngoan cố.
Ngày 18 - 12 - 1972, Ních - xơn ra lệnh ném bom miền Bắc bằng B52 kể cả Hà Nội, Hải Phòng trong 12 ngày đêm liền. Cuộc tập kích chiến lược với quy mô lớn này đã bị quân và dân ta đánh bại hoàn toàn làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không” buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán.
12 giờ 45 phút ngày 23 - 1 - 1973, cố vấn Lê Đức Thọ và đại diện Mỹ Kit-xinh-giơ ký tắt Hiệp định.
Ngày 27 - 1 - 1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được các Bộ trưởng Ngoại giao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Nguyễn Duy Trinh, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Uy – Liêm Râu - giơ, Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Việt Nam Cộng hoà Trần Văn Lắm chính thức ký kết tại Trung tâm hội nghị quốc tế, khách sạn Hoàng Gia, đường Klebe, Paris (Pháp). Hiệp định được ký kết sau hơn 5 năm đấu tranh, với 21 phiên họp giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ để đòi Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc, 14 phiên họp về hình thức cái bàn hội nghị, 174 phiên họp giữa bốn bên và 24 phiên họp riêng giữa đồng chí Lê Đức Thọ và Kit-xinh-giơ cố vấn Tổng thống Mỹ.
Hiệp định là một sự nhân nhượng lẫn nhau giữa hai bên tham chiến. Tan nhân nhượng Mỹ về việc chấp nhận trên thực tế sự tồn tại của chính quyền Sài Gòn. Mỹ nhân nhượng ta về lực lượng vũ trang cách mạng đóng nguyên ở miền Nam . Nhưng sự nhân nhượng của ta là sự nhân nhượng có nguyên tắc vì nó bảo đảm lợi ích căn bản của nhân dân ta.
Hiệp định Parisđánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta, là một thắng lợi rất to lớn trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam . Thắng lợi của Hiệp định Paris có một ý nghĩa lớn lao cả về chính trị, quân sự, ngoại giao đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta. Hiệp định Paris đã góp phần vào “Đánh cho Mỹ cút” và tạo điều kiện thuận lợi cho so sánh lực lượng thay đổi nghiên hẳn về ta, để khi có thời cơ, ta “Đánh cho Nguỵ nhào”.
Nguồn: Khoa học & Sáng tạo, số 59 + 60, tr 20








